Saturday, August 19, 2017

Bài viết hay(5322)



Nhìn nhận công lao nhà Mạc và chúa Nguyễn

TTO - Nhìn nhận công lao nhà Mạc cùng chúa Nguyễn và các vương triều nhà Nguyễn, không gọi chính quyền Việt Nam Cộng hòa là ngụy quân, ngụy quyền như trước, chỉ đích danh quân Trung Quốc xâm lược Việt Nam… Đó là những điểm mới của bộ sách Lịch sử Việt Nam.
clip_image002
Bộ Lịch sử Việt Nam tái bản lần thứ nhất gồm 15 tập với nhiều điểm mới - Ảnh: V.V.TUÂN
Sáng 18-8, nhiều đơn vị xuất bản (Công ty sách Việt Nam, NXB Thanh Niên, NXB Công an nhân dân, NXB Khoa học xã hội) tổ chức giới thiệu các bộ sách trọng tâm bao gồm:
- Bộ Lịch sử Việt Nam (15 tập)
Văn hoá biển đảo Việt Nam.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (60 tác phẩm).
400 chữ quốc ngữ hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hoá Việt Nam.
Lược sử Việt ngữ học, Hiên ngang Trường Sa
Trong đó, bộ sách Lịch sử Việt Nam tái bản lần thứ nhất, có chỉnh sửa, bổ sung, do Viện Sử học Việt Nam biên soạn thu hút nhiều sự quan tâm của báo chí.
Bên lề buổi giới thiệu sách, PGS.TS. Trần Đức Cường, nguyên Viện trưởng Viện sử học, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tổng chủ biên bộ sách Lịch sử Việt Nam, đã có cuộc chia sẻ cởi mở với báo chí về những điểm mới của bộ sách này.
Khi thành lập Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, bây giờ là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thì GS.VS. Nguyễn Khánh Toàn đã đưa ra kế hoạch nghiên cứu và biên soạn các bộ sách là Lịch sử Việt Nam, Lịch sử văn hoá Việt Nam, Lịch sử văn học Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Đấy cũng là tâm huyết của rất nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu sử học thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Sau đó, Viện đã chấp thuận cho chúng tôi biên soạn bộ Thông sử Việt Nam với 15 tập.
Hơn 30 nhà nghiên cứu sử học đã bỏ thời gian khoảng 9 năm như để hoàn thành bộ sử này với hơn 10.000 trang. Đây là bộ thông sử quy mô chưa từng có từ trước đến nay ở Việt Nam, từ thời khởi thủy cho đến những năm 2000.
PGS. TS Trần Đức Cường
* Lịch sử khởi thủy của Việt Nam trong bộ sử này có những điểm gì mới, thưa ông?
- Chúng tôi khẳng định nhà nước ở Việt Nam hình thành sớm, dân tộc Việt Nam hình thành sớm.
Đất nước Việt Nam chúng ta hình thành trên cơ sở sự phát triển của ba nền văn hoá tương ứng với ba vương quốc cổ đại là: văn hoá Đông Sơn với vương quốc Âu Lạc, văn hóa Sa Huỳnh với nhà nước Chăm Pa, văn hóa Óc Eo với vương quốc Phù Nam.
Chúng tôi đã tránh được điều mà nhiều nhà sử học trước đây mắc phải là viết lịch sử Việt Nam nhưng chủ yếu là lịch sử của người Việt gắn với vương quốc Âu Lạc.
* Thời kỳ các triều đại quân chủ chuyên chế ở Việt Nam cũng có nhiều tranh cãi sẽ được nhìn nhận ra sao trong bộ sách này?
- Việc đánh giá một số vương triều phong kiến Việt Nam được chúng tôi tiếp cận với nhiều điểm mới.
Với vương triều nhà Mạc, rõ ràng chúng ta cần đi đến kết luận nhà Mạc là một trong những vương triều có đóng góp trong lịch sử Việt Nam.
Dù chỉ tồn tại khoảng thời gian không dài nhưng đã giải quyết được một số khủng hoảng về kinh tế, xã hội cuối thời Lê. Chúng tôi đã bước đầu, đánh giá đầy đủ, khách quan, trung thực về vấn đề này.
Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, là lúc nhà Lê đã rơi vào khủng hoảng kinh tế, xã hội rất rõ chứ không còn như thời kỳ Lê Lợi, Lê Thánh Tông nữa. Để giải quyết vấn đề này, Mạc Đăng Dung mới làm cuộc chính biến, giành lấy chính quyền.
Không chỉ ổn định kinh tế, xã hội mà nhà Mạc còn phát triển văn hoá, giáo dục với nhiều khoa thi được mở, tìm được nhiều nhân tài cho đất nước.
Câu chuyện về các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn cũng phải đánh giá cho đúng. Chúng ta phải ghi nhận các chúa Nguyễn đã có công tổ chức cho người Việt khai phá vùng đất Nam Bộ bây giờ.
Sau khi lên ngôi, thành lập vương triều Nguyễn năm 1802, nhà Nguyễn đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước - sự nghiệp mà nhà Tây Sơn và người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã mở ra nhưng chưa hoàn thiện.
Vua Gia Long lên ngôi đã góp phần hoàn thiện vào sự nghiệp thống nhất đất nước.
Thứ hai, nhà Nguyễn củng cố bộ máy cai trị toàn quốc, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau.
Cùng với đó, phải ghi nhận công lao của các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn trong việc xác định chủ quyền của đất nước với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thời đó, hàng năm triều đình đã cử những đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải đi tuần thú ở các đảo vùng Hoàng Sa, Trường Sa bây giờ.
Thứ ba, nhà Nguyễn đã làm được nhiều việc phát triển văn hoá. Nhiều công trình được xây dựng dưới thời Nguyễn sau này được UNESCO công nhận là di sản thế giới như cung đình Huế. Lúc bấy giờ nước ta là vương quốc khá mạnh trong khu vực Đông Nam Á.
Nhưng bên cạnh điểm tích cực, các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn cũng có những sai lầm bị lịch sử lên án. Việc Nguyễn Ánh cầu cứu 5 vạn quân Xiêm sang xâm lược nước ta là sai lầm hết sức nghiêm trọng. Chính người anh hùng Nguyễn Huệ đã đánh tan đạo quân ấy.
Sai lầm thứ hai là họ ký hiệp ước với người Pháp, dựa vào người Pháp, dù lúc đó nước Pháp còn khó khăn nên chưa thể giúp đỡ.
Nhà Nguyễn không chịu canh tân đất ước dù có nhiều nhân sĩ, trí thức, nhà nho yêu nước có tư tưởng đổi mới đề xuất canh tân, đổi mới đất nước về nhiều mặt như Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ…
Nhưng các vua nhà Nguyễn đã không chấp nhận những cải cách này khiến đất nước bị lạc hậu. Có lẽ do lợi ích của dòng họ quá lớn. Vậy nên khi đất nước phải đối diện với sự xâm lược của các nước tư bản phương Tây thì nhà Nguyễn để đất nước rơi vào tay ngoại bang.
Chúng tôi đã đánh giá nhà Nguyễn rõ ràng, khách quan, không phiến diện như trước đây.
clip_image004
PGS.TS. Trần Đức Cường trả lời báo chí - Ảnh: V.V.TUÂN
* Lịch sử hiện đại Việt Nam cũng có rất nhiều câu chuyện gây tranh cãi. Tiêu biểu là cuộc chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc đến nay vẫn ít được nhắc đến trong sách sử?
- Cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc nước ta do Trung Quốc gây nên. Chúng ta phải chiến đấu bảo vệ toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Lai Châu đến Quảng Ninh. Cuộc chiến đấu ấy rất quyết liệt để bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ quốc.
Trong bộ sử này, chúng tôi nói rõ rằng Trung Quốc đã huy động 600 nghìn quân cùng xe tăng, đại bác… Chúng tôi gọi rõ đó là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam.
Trung Quốc cho quân tiến vào lãnh thổ Việt Nam mấy chục cây số như vậy thì không thể nói rằng đó không phải là cuộc chiến tranh xâm lược.
Và trận chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Việt Nam không chỉ gói gọn trong tháng 2-1979 mà còn kéo rất dài. Cán bộ, chiến sĩ của chúng ta phải hi sinh rất nhiều xương máu. Đến năm 1988 mới thực sự tương đối có hoà bình ở vùng biên giới phía Bắc.
* Một vấn đề khác được tranh cãi lâu nay là sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa được nhìn nhận như thế nào, thưa ông?
- Chính quyền Việt Nam Cộng hòa là một thực thể ở miền Nam Việt Nam. Nó tồn tại trong gần 21 năm. Năm 1954 còn có một thể chế nữa gọi là Quốc gia Việt Nam. Sau đó đến năm 1955 thì Ngô Đình Diệm mới phế Bảo Đại để làm Quốc trưởng, sau đó trưng cầu dân ý, bầu Tổng thống.
Việt Nam Cộng hòa là nối tiếp của Quốc gia Việt Nam. Nhưng vấn đề phải nghiên cứu cho rõ nguyên tắc vận hành của chính quyền này là gì? Đó là một thực thể trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam.
Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn.
Lịch sử phải khách quan, phải viết thế nào để mọi người chấp nhận.
* Vậy còn những quan lại người Việt làm việc với chính quyền bảo hộ như Hoàng Cao Khải, Hoàng Trọng Phu. Vì sao trong bộ sử lại đánh giá họ rất nặng nề là “tay sai của thực dân Pháp”?
- Tôi xác nhận Hoàng Cao Khải và Hoàng Trọng Phu chính là tay sai của thực dân Pháp. Điều này không có gì thay đổi cả, bởi họ thực hiện mưu đồ của chính quyền bảo hộ.
Có những viên quan lại của Nam Triều có tinh thần yêu nước và chính quyền cách mạng vẫn mời họ ra cộng tác như cụ Phan Kế Toại, cụ Phạm Khắc Hòe…
Nhưng hai nhân vật Hoàng Cao Khải và Hoàng Trọng Phu, qua những chứng cứ lịch sử thì không đánh giá khác được.
* Trong quá trình thực hiện bộ sách đồ sộ này, có những khó khăn gì, thưa ông?
- Khó khăn đầu tiên là chúng tôi chưa có điều kiện tập hợp tất cả giới sử học.
Khó khăn thứ hai là về tư liệu vì hầu hết hiện nằm rải rác ở khắp nơi ngay trên đất nước chúng ta. Đó là chưa kể chúng ta chưa có quy định pháp luật về việc giải mật và công bố các tư liệu lịch sử.
Ở các nước có quy định rõ ràng loại tư liệu nào trong 20 năm, hoặc 30 năm, 50 năm… thì được bạch hoá. Nhưng chúng ta chưa có những quy định đó nên có những tư liệu chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận.
Hơn nữa, có các tư liệu ở Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật và nhiều nước khác nữa, vì điều kiện chúng tôi cũng chưa tiếp cận được.
Vũ Viết Tuân ghi

Biểu tình chớp(Cách phản kháng khi đàn áp gia tăng)

Một hình thức phản kháng, không cần xuống đường rầm rộ, là “biểu tình chớp” (flash demonstration). đó là các cuộc biểu tình cá nhân hay của những nhóm nhỏ, tồn tại không quá nửa giờ, đủ lâu để các nhà hoạt động chụp được những bức hình tiêu biểu về cuộc biểu tình, tung chúng lên mạng xã hội, nhưng cũng đủ ngắn để tránh những dòm ngó không đáng có của chính quyền…
clip_image002
Thân nhân những người bị bắt giữ trong vụ đàn áp được gọi là “709” biểu tình trước Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao ở Bắc Kinh, ngày 7/7/2017. Ảnh: Damir Sagolj / Reuters
Trong hai năm qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã thẳng tay đàn áp các hoạt động phản kháng của quần chúng ở cơ sở. Vì xem xã hội dân sự như một phương tiện qua đó những tư tưởng nguy hại của phương Tây có thể tràn vào Trung Quốc, chính quyền Tập Cận Bình đã liên tục bắt bớ những ai họ cho là vượt quá giới hạn, đã cầm giữ một số luật sư nhân quyền, bắt đầu từ tháng 7/2015, vài tháng sau đó họ lại bắt giam các nhà hoạt động bênh vực công nhân, và đặt ra những hạn chế mới với các Tổ chức Phi Chính phủ (NGO) hoạt động tại Trung Quốc.
Vụ đàn áp lộ liễu gần đây nhất diễn ra vào ngày 13/7 khi người đoạt giải Nobel Hoà bình Lưu Hiểu Ba chết vì ung thư gan, sau khi đã ở tù gần hết bản án 11 năm, chỉ vì đã viết một áng văn đòi hỏi dân chủ có tên là Hiến chương 08. Trong những ngày cuối đời, khuôn mặt thất thần của Lưu Hiểu Ba như đã gửi đi thông điệp về một thực tại nhức nhối, rằng guồng máy đàn áp của nhà nước có thể làm suy sụp cả những nhà hoạt động kiên định nhất. Và, cái chết của ông cũng khiến thế giới bên ngoài phải tự hỏi: Có phải thời kỳ phản kháng ở Trung Quốc đã chấm dứt?
Nhưng, phải thấy rằng mặc dù đàn áp ngày càng tăng, các hoạt động phản kháng của quần chúng vẫn không hề biến mất. Như một thành ngữ Trung Quốc diễn tả nôm na “trên càng đè nén, dưới càng bật phản”, nếu nhà cầm quyền Trung Quốc biết khéo léo ra chiêu bao nhiêu thì các nhà phản kháng cũng khéo léo phản chiêu bấy nhiêu, họ ngày càng tinh nhạy và sáng tạo trong hành vi phản kháng.
Không như ở các nước dân chủ tự do, nơi các NGO có thể vận động đám đông xuống đường, Trung Quốc cấm chỉ các cuộc biểu tình công cộng. Rút cuộc là các nhà hoạt động Trung Quốc học được cách vận động nhưng không cần đám đông. Họ làm giảm rủi ro bị trấn áp khi phản kháng dưới hình thức cá nhân và quy mô nhỏ. Mặc dù chính quyền Trung Quốc đôi khi miễn cưỡng chấp nhận, có khi còn khích lệ, một số hình thức phản đối tự phát ở địa phương, nhưng họ chưa hề cho các NGO đứng ra điều phối biểu tình. Dù sao, các cuộc biểu tình không được xã hội dân sự đứng sau lưng thì với nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn là ít nguy hiểm hơn.
Một hình thức phản kháng, không cần xuống đường rầm rộ, là “biểu tình chớp” (flash demonstration). Đó là các cuộc biểu tình cá nhân hay của những nhóm nhỏ, tồn tại không quá nửa giờ, đủ lâu để các nhà hoạt động chụp được những bức hình tiêu biểu về cuộc biểu tình, tung chúng lên mạng xã hội, nhưng cũng đủ ngắn để tránh những dòm ngó không đáng có của chính quyền.
Năm 2010, tôi chứng kiến một nhóm công nhân Quảng Châu làm cuộc “biểu tình chớp” ngay trước toà án huyện. Họ phản đối Hiệp hội các Nhà sản xuất Địa phương phạm pháp khi đưa vào danh sách đen những người bị gọi là công nhân “gây rối”, trong khi những người này chỉ là những công nhân có ý thức và khuyến khích đồng nghiệp đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của người lao động. Công nhân có tên trong sổ đen đã gặp rất nhiều khó khăn khi đi tìm việc mới trong huyện. Nhóm công nhân này sau đó đã đệ đơn kiện hiệp hội kia.
Sau khi nghe toà phân xử, công nhân đã đeo khẩu trang che mặt và lôi các tấm bảng cứng, mỗi bảng mang một chữ tiếng Hoa, nhưng khi ghép các chữ lại với nhau thì dòng chữ có nghĩa “Chủ nhân vô đạo đánh đập công nhân nhập cư. Công nhân phản đối hành vi bêu xấu”. Lọt khỏi ánh mắt dò xét của đội bảo vệ, một công nhân, hoạt động trong tổ chức NGO bênh vực người lao động, đã đứng bên kia đường quay phim toàn bộ sự kiện. Các công nhân đứng đó, giương cao biểu ngữ trong vòng chưa đầy 5 phút, trước khi nhảy lên xe buýt, di chuyển và lập lại hình thức phản đối này ngay trước cổng toà nhà Hiệp hội.
Mặc dù gần như tự phát, cuộc biểu tình chớp vừa kể cũng được điều phối bởi các tổ chức lao động không phép, và bị buộc phải hoạt động ngoài vòng pháp luật, vì Trung Quốc chỉ cho phép các nghiệp đoàn do nhà nước quản lý được chính thức đại diện công nhân. Vào lúc đó, hoạt động kể trên của họ ít được biết đến vì truyền thông đang xôn xao vì những cuộc đình công quy mô lớn và các vụ công nhân tự tử diễn ra tại các nhà máy sản xuất iPhone. Tuy nhỏ về quy mô, nhưng dù sao các cuộc biểu tình chớp của công nhân cũng cho thấy một hình thức sáng tạo mới trong hoạt động phản kháng tại cơ sở, và hiệu quả của nó, dù không lôi kéo đám đông.
Biểu tình chớp tiếp tục diễn ra dưới thời Tập Cận Bình. Vụ mới đây nhất là chiến dịch chống quấy rối tình dục do một cô gái, 24 tuổi, đấu tranh cho nữ quyền, rất cá tính với mái tóc nhuộm toàn hồng, tên là Trương Lôi Lôi (Zhang Leilei). Cô chụp hình mình tay cầm bích chương, đứng trước một loạt các dinh thự tiêu biểu của Quảng Châu, bích chương vẽ con mèo hoạt hình với một chân xoè móng nói “KHÔNG” với bàn tay sờ soạng đang dấn tới. Cô cũng vận động 100 phụ nữ khác ở 26 thành phố trên toàn Trung Quốc chụp hình cầm bích chương như cô và đăng lên mạng Weibo, mạng xã hội tương tự như Twitter tại Trung Quốc.
Người ngoài có thể đánh giá chiến dịch của cô đơn thuần chỉ là một khoảnh khắc bộc lộ bản thân, nặng tính cá nhân. Nhưng thực ra, cô Trương là thành viên của một mạng lưới lớn hơn, gồm những nhà đấu tranh nữ quyền, họ không chỉ tham gia phát động chiến dịch của cô, mà còn giúp quảng bá cho chiến dịch lan toả, chẳng hạn họ cho in và phát hành hàng loạt các loại áo thun mang thông điệp chống quấy rối tình dục. Hoạt động của họ dường như đã tạo được ảnh hưởng với chính quyền tại đây. Giữa tháng 7/2017, Quảng Châu và Thâm Quyến trở thành hai thành phố đầu tiên tại Trung Quốc cho thử nghiệm những toa xe điện ngầm chỉ dành cho phụ nữ, trong nỗ lực chống quấy rối tình dục đang tràn lan trên các phương tiện giao thông công cộng. Mặc dù rất khó để khẳng định đâu là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thử nghiệm này, nhưng có thể nói hình thức phản kháng của cô Trương cho thấy cũng có lúc mọi người không cần phải xuống đường rầm rộ mới bày tỏ được bức xúc.
Một phương thức khác là tổ chức các nhóm người viết kiến nghị cá nhân gửi chính quyền. Ví dụ tiêu biểu là việc làm của các nhà vận động tự do thông tin, là nhóm trong gần mười năm qua đã nỗ lực đòi chính quyền phải minh bạch. Cũng nên biết là vào năm 2008, Trung Quốc đã áp dụng đạo luật về tự do thông tin đầu tiên, luật này được xây dựng dựa theo mẫu “Đạo luật về Tự do Thông tin” của Mỹ. Phiên bản Trung Quốc của luật này cho phép công dân quyền đòi mọi loại thông tin, kể cả thông tin về ngân sách chính phủ. Nhưng, một nghiên cứu gần đây cho thấy, trên thực tế, các chính quyền địa phương tại Trung Quốc chỉ đáp ứng được 14% yêu cầu cung cấp thông tin của người dân chiếu theo luật này.
Việc chính quyền không đáp ứng được yêu cầu thông tin đã góp phần làm xuất hiện một lớp người phản kháng đặc biệt – tạm gọi đó là những “chiến binh tự do thông tin”. Ông Ngô Tuấn Lương (Wu Junliang), một trong những nhà vận động hàng đầu vì sự minh bạch, đã tổ chức một nhóm công dân Thâm Quyến viết thư yêu cầu chính quyền địa phương cung cấp thông tin về ngân sách. Làm việc tại văn phòng riêng, ông Ngô trả công cho một số “tình nguyện viên” (thực ra, họ là nhân viên được ông trả lương), để viết thư lên hàng loạt các sở ban ngành của chính quyền, yêu cầu cung cấp thông tin.
Các tình nguyện viên viết với tư cách cá nhân để giấu việc họ là thành viên của một nhóm có điều phối. Khi chính quyền địa phương phớt lờ các lá thư này, ông Ngô và cộng sự đã liên hệ với giới truyền thông để đưa ra ánh sáng vụ các quan chức địa phương không trả lời dân, và kết cục dẫn tới việc 114 sở ban ngành của chính quyền Quảng Châu phải công khai thông tin về ngân sách của họ trên mạng.
Viết thư tiếp tục là một cách hoạt động trong tình hình hiện nay ở Trung Quốc. Người dân đã rất khéo léo tận dụng các kênh thông tin được nhà nước cho phép, như “Hộp thư của Chủ tịch” (hộp thư ở đây là email của lãnh đạo địa phương) để nói lên những gì dân bức xúc. Hộp thư của Chủ tịch được thực hiện vào đầu những năm 2000 như một phần chiến dịch thúc đẩy chính quyền địa phương toàn Trung Quốc cung cấp dịch vụ qua mạng. Đến năm 2014, có 98% chính quyền địa phương cấp tỉnh và huyện có dịch dụ này. Dịch vụ cho phép người dân bình thường yêu cầu quan chức địa phương khắp Trung Quốc, tức những người mà dân không bầu chọn, phải cung cấp thông tin.
Điều vừa kể cũng mở ra một hình thức hoạt động trên mạng khá bất ngờ. Một nghiên cứu gần đây, bao gồm việc phân tích những lá thư gửi chủ tịch địa phương tiêu biểu trên toàn quốc năm 2013, cho thấy một số thư chứa đựng những chỉ trích rất cay độc về các vụ chính quyền tham nhũng và sai trái. Ví dụ, trong một lá thư tiêu biểu khiếu nại vụ cướp đất trái phép, tác giả đã viết với lời lẽ như sau: “Tôi có lời khen ngài vì ngài hoạt động cực hiệu quả nhé! Tôi đã từng viết cho Bí thư Lưu vào tháng 11/2012 rằng đất của tôi đã bị lấy mất, còn nhà của tôi thì bị cưỡng bức phá huỷ. Tuy vậy, chẳng có ai giúp gì tôi cả!… Có phải đây là cách chính quyền thực thi nghĩa vụ với dân chăng, phục vụ bằng cách hành dân, khiến dân chạy lòng vòng, hay là chính quyền chỉ biết mỗi đấu tranh trên giấy?” Một lá thư khác viết từ Vũ Hán còn thẳng đuột hơn, tác giả doạ sẽ hành động nếu ông không nhận được phản hồi. Ông viết: “Nếu tôi không nhận được thư trả lời, tôi sẽ liên hệ với báo chí và kiện lên đến Công an Tỉnh!” Dù nội dung gay gắt như thế, những lá thư này vẫn được đăng trên các trang mạng của chính quyền tỉnh và quận huyện khắp Trung Quốc. Điều này cho thấy trong hệ thống vẫn còn kẽ hở để người dân nhanh tay lẹ mắt có thể tận dụng, và không phải tiếng nói phản kháng nào cũng bị dập tắt.
Ngoài phản kháng trên mạng như vừa kể thì phản kháng ngoài đời thực với quy mô nhỏ hiện vẫn tiếp tục, dù rằng mức độ đàn áp có gia tăng. Như trong tháng 7/2017, có ít nhất 320 luật sư nhân quyền ở Trung Quốc bị cầm giữ, thẩm vấn, hoặc bị ảnh hưởng bởi chiến dịch bủa vây luật sư rầm rộ chưa từng có, tính từ khi chiến dịch bắt đầu vào tháng 7/2015. Nhưng, mặc dù hoạt động của các luật sư hầu hết bị chựng lại thì vợ của họ vẫn tiếp tục lên tiếng thay họ. Một nhóm nhỏ những người vợ của các luật sư bị cầm giữ đã diễu hành qua đường phố Thiên Tân vào tháng 5/2017, họ mang theo những thùng màu đỏ và mặc áo trắng có chữ đỏ ghi tên chồng họ. Dù số lượng có hạn nhưng sự bất tuân của họ cho thấy hoạt động phản kháng không thể nào bị dập tắt hoàn toàn. Những người vợ này đã tiếp tục lên tiếng, dù rằng những người chồng có tiếng tăm của họ đã bị chế độ bịt miệng.
Ngay cả những đợt đàn áp khốc liệt nhất cũng không, tính đến nay, bịt miệng được những công dân Trung Quốc có quyết tâm mạnh mẽ. Thay vì đưa ra những tuyên bố ủng hộ dân chủ cấp tiến, như Lưu Hiểu Ba và những người ký tên vào Hiến chương 08 đã làm, các nhà hoạt động xã hội dân sự hiện nay đã biết cách đương đầu với con bò điên bằng cách chích nó những mũi nhỏ mà đau, thay vì đâm nó trọng thương.
Đúng là hiệu quả tức thì của những hình thức phản kháng cá nhân có thể khó nhận biết. Nhưng, hành vi của họ chứng tỏ rằng bất chấp những cuộc đàn áp chưa từng có nhắm vào xã hội dân sự, phản kháng vẫn sẽ tiếp tục bùng nổ, không to thì nhỏ.
Như cố lãnh tụ Đặng Tiểu Bình có lần nói về thời kỳ thay hình đổi dạng của Trung Quốc, rằng quá trình đổi thay sẽ gian nan, vất vả như người phải “dò đá qua sông”. Cũng vậy, các nhà hoạt động thường dân Trung Quốc cũng phải dò đường mà đi trong giai đoạn hậu Lưu Hiểu Ba, và cần hiểu ra rằng họ phải nhẫn nại đò đi từng bước một, qua được hòn đá trơn trượt trước mặt, rồi mới đến hòn đá khác.Diana Fu
Phan Trinh dịch

Venezuela: Trông người lại ngẫm…

Nicolás Maduro, Tổng thống nước Venezuela, đã triệu tập một Hội đồng Lập hiến (Asamblea Nacional Constituyente - ANC) để soạn một bản hiến pháp mới theo chiều hướng chủ nghĩa xã hội của Đảng Xã hội Thống nhất Venezuela (Partido Socialista Unido de Venezuela PSUV) đang cầm quyền. Đây có thể xem là lá bài chót để quyết định thắng thua của Chính phủ Maduro và đảng cầm quyền đối với những cuộc biểu tình của dân chúng do liên minh đối lập MUD tổ chức đòi Maduro từ chức và tổ chức bầu Tổng thống mới.
clip_image001
Venezuela tại châu Mỹ La tinh (hình: Pinterest)
Phó Chủ tịch Đảng Xã hội Thống nhất PSUV, ông Cabello đã trắng trợn nói rõ mục đích triệu tập Hội đồng Lập hiến ANC: “ANC sẽ bãi bỏ Quốc hội, tước quyền miễn nhiễm của các dân biểu, gội đầu Công tố viện quốc gia và đặt tất cả các cơ chế quốc gia dưới quyền Tổng thống!”.
Nói một cách khác, ANC sẽ hủy bỏ các cơ chế tự do dân chủ tam quyền phân lập để thay thể vào đó một cơ chế độc đảng toàn trị theo như mô hình của Cuba, một mô hình độc tài đi ngược hẳn với trào lưu dân chủ thế giới.
Trước những lời khuyến cáo từ USA và Âu châu, Tổng thống đã khẳng định việc triệu tập ANC là “do ý dân”, mặc dù theo những cuộc thăm dò ý kiến tại Venezuela thì có trên 66 % người dân đã phản đối việc triệu tập Hội đồng Lập hiến ANC rất thiếu dân chủ của Tổng thống.

Ngược dòng thời gian

Lãnh tụ cuộc đảo chánh thất bại năm 1992, ông Hugo Chavez đã đã thắng cử và được bầu làm Tổng thống năm 1998. Với những cải cách xã hội ban đầu thành công, Chavez đã lấy được sự ủng hộ của dân chúng và đã được bầu làm Tổng thống trong những nhiệm kỳ liên tiếp. Trong thời gian cầm quyền, Chavez đã dần dần đưa chính trị và xã hội về khuynh hướng quốc gia khuynh tả toàn trị theo kiểu mẫu Cuba, nhưng sự ủng hộ nồng nhiệt của dân chúng trong thời gian ban đầu (2002, Chavez được 60% phiếu) cũng giảm xuống theo với nền kinh tế lạm phát, suy sụp và đặc biệt là nạn tham nhũng tràn lan. Theo thống kê về tham nhũng của Tổ chức Minh Bạch Quốc tế (Transparency International) thì trong năm 2016 Venezuela đứng hạng 166 trong 176 nước (Để so sánh tệ nạn tham nhũng, hàng năm Tổ chức Minh bạch Quốc tế cho điểm và xếp hạng 176 quốc gia: năm 2016 Danemark và New Zeeland đứng đầu về trong sạch với số điểm cao nhất 90 trong thang điểm 100. Các quốc gia dưới 50 điểm bị xem là có tệ nạn tham nhũng cao, dưới 30 điểm là tham nhũng nghiêm trọng. Venezuela có 17 điểm, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được 33 điểm xếp hạng 113/trong 176 nước).
Năm 2013, ông Chavez qua đời vì bạo bệnh, Phó Tổng thống Nicolás Maduro lên tiếp quyền, kinh tế càng ngày càng bát nháo, lạm phát năm 2016 tăng 800% và dự kiến sẽ còn tăng lên đến 1600% trong năm 2017! Các thực phẩm căn bản như ngô (bắp), gạo, lúa mì đều khan hiếm và đắt đỏ, thuốc men và y tế thiếu thốn, điện và các dịch vụ bị hạn chế… đưa đến những bất an và phẫn nộ trong dân chúng.
Từ một quốc gia có lượng dầu dự trữ lớn nhất nhì thế giới với mức thu có thể đạt 1000 tỷ USD hàng năm, khi giá dầu thế giới xuống giá và sự quản lý kém cỏi của nhà nước, chỉ nhằm phục vụ cho các nhóm quyền lợi, Venezuela đã thiếu nợ hàng trăm tỷ USD, trong khi người dân không đủ sống. (Tập đoàn Dầu khí Việt Nam PVN cũng bị mất trắng 1,8 tỷ USD khi rót tiền vào Venezuela).

Những thủ đoạn chính trị

Trong kỳ bầu Quốc hội năm 2015, các đảng đối lập đã thắng áp đảo với hơn 2/3 số dân biểu, với tỷ số này, Quốc hội có nhiều quyền hạn hơn trong việc kiểm soát Chính phủ, nhưng Tòa án Tối cao Quốc gia (do đảng cầm quyền PSUV của Maduro chi phối) đã tìm cách phủ nhận và hủy bỏ 3 ghế dân biểu của phe đối lập, để phá tỷ số áp đảo 2/3 trong Quốc hội. Căng thẳng giữa 2 phe càng ngày càng tăng, hỗn loạn về kinh tế và xã hội đã làm bùng nổ phản đối của dân chúng.
clip_image003
Tổng thống Maduro, Chủ tịch Đảng Xã hội Thống nhất:
“Tất cả các cơ chế quốc gia dưới quyền Tổng thống”
 (ảnh ARD)
Dân chúng Venezuela thay vì than vãn về nạn tham nhũng, về đời sống cực kỳ khó khăn, họ nhận thức được quyền của người dân, họ bầy tỏ ý kiến của mình bằng cách xuống đường phản đối chính quyền của Tổng thống bất chấp bị đàn áp. Cảnh sát Venezuela không thể phong tỏa đường phố được như ở Sài Gòn hay Hà Nội vì người dân Venezuela xuống đường đông quá.
clip_image005
Biểu tình tại thủ đô Caracas phản đối chính quyền Maduro (ảnh ZDF)
clip_image007
Thời tiết xấu, mưa không ngăn cản được người dân Venezuela xuống đường biểu tình (ảnh ZDF)
Thay vì thẳng thắn đối thoại, Tổng thống đã cho đàn áp đẫm máu các cuộc biểu tình. Riêng trong năm 2017 đã có trên 100 người bị chết vì những đàn áp bằng vũ lực của Chính phủ. Đồng thời, Maduro đưa ra thủ đoạm mới là cho bầu một Hội đồng Lập hiến mà Maduro hoàn toàn kiểm soát.
Năm 2016, phe đối lập xin chữ ký dân tổ chức trưng cầu dân ý truất phế Tổng thống. Chỉ trong vòng 2 ngày, họ đã có hơn 1 triệu rưỡi chữ ký. Tiếp theo đó, mùa hè 2017 họ đã tổ chức lấy ý kiến dân với trên 7 triệu phiếu phản đối việc Tổng thống triệu tập Hội đồng Lập hiến một cách thiếu dân chủ. Hội đồng Lập hiến do Tổng thống triệu tập gồm đa số ứng cử viên do Chính phủ đề cử: người dân chỉ có quyền chọn lựa bầu 545 đại biểu trong số 5500 ứng cử viên được đề cử (đến đây độc giả chắc hẳn thấy một điều rất quen thuộc: “đảng cử dân bầu”!), ngoài ra cuộc bầu diễn ra không có sự quan sát của quốc tế. Như vậy, Tổng thống Madura chắc chắn nắm trong tay một Hội đồng Lập hiến dễ sai bảo mà lại có quyền lực rộng lớn, được phép ra luật và giải tán Quốc hội (đang do phe đối lập nắm đa số). Với thủ đoạn chính trị lão luyện này, Maduro sẽ vừa đè ép được phe đối lập trong Quốc hội vừa tập trung được quyền hành độc trị trong tay một cách “hợp pháp”.
Hơn 20 đảng phái trong liên minh đối lập MUD đã kêu gọi tẩy chay cuộc bầu Hội đồng Lập hiến và biểu tình đòi hỏi truất phế Tổng thống, ngược lại, ông này cho huy động quân đội và công an để bảo vệ cuộc bầu cử và sẵn sàng áp chế các cuộc biểu tình.
Tuy nền kinh tế xuống dốc thê thảm và bị dân chúng phản đối kịch liệt, nhưng Madura đã khôn khéo chia chác quyền lợi kinh tế cho phe quân đội để giữ sự phục tùng từ phía quân đội.
Tuy mang danh “lập hiến” nhưng chỉ một ngày sau khi nhóm họp lần đầu tiên, Hội đồng Lập hiến mới đã quyết định cách chức bà Tổng Công tố Luisa Ortega, người từng ủng hộ Hugo Chavez và đồng minh cũ của Tổng thống nhưng trong thời gian qua bắt đầu lên tiếng chỉ trích chính quyền Venezuela. Giữ chức Tổng công tố từ 10 năm nay, bà Ortega tố cáo việc Maduro lập Hội đồng Lập hiến để thâu tóm quyền hành, bà nói bị Hội đồng Lập hiến mới sa thải vì Chính phủ muốn ngăn chặn các cuộc điều tra của bà về tham nhũng và vi phạm nhân quyền. Bà Ortega cho hay đã bị vệ binh quốc gia ngăn không cho vào văn phòng ở thủ đô Caracas và tuyên bố không chấp nhận sự cách chức đó. Quyết định sa thải bà Ortega đã gặp phải sự sự chỉ trích mạnh mẽ từ các quốc gia châu Mỹ Latin khác như Mexico, Peru và Colombia.
clip_image009
Tổng công tố Luisa Ortega xuống đường tố cáo chính quyền Maduro (ảnh BR)

Nội chiến?

Trong khi Tổng thống tuyên bố cuộc bầu hoàn toàn thành công với sự tham dự của 41% dân và sẽ cho tiến hành nhanh chóng việc sửa hiến pháp thì liên minh đối lập phủ nhận kết quả bầu phiếu vì các công chức bị Chính phủ ép buộc phải đi bầu. Các nước láng giềng ở Nam Mỹ như Colombia, Argentina, Brazil, Mexico, Costa Rica, Chile cũng như USA, Canada, Liên minh Âu Châu EU và Tổ chức các nước Châu Mỹ OAS đều lên tiếng không công nhận kết quả cuộc bầu Hội đồng Lập hiến Venezuela ANC.
Khối Thị trường chung Nam Mỹ Mercosur đã đình chỉ vai trò thành viên của Venezuela “vô thời hạn”, đồng thời tuyên bố Venezuela sẽ không được trở lại khối cho đến khi các tù nhân chính trị được trả tự do và Hội đồng Lập hiến mới bị loại bỏ. Trước đó, vào tháng 12-2016, Venezuela đã bị Mercosur đình chỉ tạm thời vì không tuân thủ quy định của khối này.
Với thái độ cứng rắn không nhượng bộ của cả 2 phe Chính phủ lẫn liên minh đối lập, người ta lo ngại cuộc nội chiến tại Venuela sẽ bùng nổ trong thời gian sắp tới.Nguyễn Trọng Toàn

Bài viết hay(5320)

Tại sao có những thằng chồng sợ vợ đến mức im re khi nghe nó chửi cha mắng mẹ mình? Tại sao có những thằng dân sợ lãnh đạo đến mức đần độn khi coi lãnh tụ như thần thánh bất khả xâm phạm? Tại vì ai cũng có con thỏ, con lợn trong lòng hay đó chỉ là chiêu "nín thở qua sông" mà thôi. Nhiều ông Bolsa rỉ tai khuyên tui mua vé máy bay rủ vợ về VN chơi đi để khi về tới Saigon thì thuê khách sạn máy lạnh rồi gài kín cửa lại mà đánh cho con vợ hỗn hào, đanh đá một trận nhừ tử gọi là hả giận. Nghe xong, tui hình dung ra cái ngày VC sụp đổ thì Cả Lú có chết cũng sẽ bị đào mồ lên mà quất 100 hèo cho bỏ ghét. VC biết vậy nên chết sống gì cũng phải bóp chết từ trứngnước mọi mầm mống chống đối ?

Phải làm gì để trở thành lãnh đạo cấp cao tại Việt Nam?

…không ít các chuyên gia chính trị đưa ra lập luận việc ban hành khung tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo cấp cao của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhằm mục tiêu giải quyết triệt để cuộc tranh giành và đấu đá quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản…
clip_image002
Giới lãnh đạo cấp cao của Việt Nam tại Đại hội Đảng lần thứ 12, tháng Giêng, 2016. Photo: AFP
Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam được cho là lần đầu tiên đưa ra những quy định tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước.

Vì sao ban hành?

Truyền thông trong nước và các hãng thông tấn nước ngoài hồi trung tuần tháng 8 đồng loạt đăng tải thông tin Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành quy định của Bộ Chính trị đối với cán bộ lãnh đạo cấp cao, thuộc diện Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Theo qui định thì họ phải là những cán bộ tuyệt đối không tham vọng quyền lực, không tham nhũng và quyết liệt chống tệ nạn quan liêu, lãng phí, cửa quyền và lợi ích nhóm cũng như không để người thân quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm trục lợi.
Bên cạnh những quy định mới như vừa nêu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn ký ban hành quy định về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trên tinh thần cán bộ lãnh đạo phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng và của quốc gia, dân tộc, kiên định với chủ nghĩa Karl Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chính Minh cùng mục tiêu lý tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Reuters vào ngày 15 tháng 8 dẫn lời của một số nhà quan sát tình hình Việt Nam cho rằng quyết định của Bộ Chính trị là một sự cố gắng chống tham nhũng trong một chế độ chỉ có một đảng lãnh đạo và điều này được thực hiện từ khi nhóm bảo thủ trong đảng, vốn xem trọng vấn đề an ninh, chiếm được thế thượng phong từ năm ngoái đến nay. Tuy nhiên, dư luận trong và ngoài nước đặc biệt lưu tâm với thắc mắc vì sao người đứng đầu Đảng Cộng sản lãnh đạo lại ký ban hành khung tiêu chuẩn chức danh và tiêu chí đánh giá cán bộ vào thời điểm này. Đài RFA nêu vấn đề với Đại tá Bùi Văn Bồng, nguyên trưởng Đại diện Báo Quân đội nhân dân, tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và được ông cho biết:
Theo tôi rất bình thường. Bởi vì khi nảy sinh những vấn đề thực tế lãnh đạo của xã hội thì buộc lòng nhà lãnh đạo phải đưa ra các quyết sách hoặc thậm chí đưa ra các quy định mới cho phù hợp. Trong bối cảnh này thì càng phải thận trọng, chọn lọc hay tìm ra những người có thể tin cậy để lãnh đạo thì đây là sự cần thiết, nhất là không để cho những người cơ hội hoặc bè phái đứng trong hàng ngũ lãnh đạo mà không có lợi đối với công tác phòng chống tham nhũng và phải thanh lọc làm sao cho trong sạch nội bộ thì phải chọn đúng người thôi. Ông Trọng trong cương vị Tổng Bí thư thì ông phải làm như thế vì nếu không thì ban lãnh đạo sẽ rối”.
Mặc dù Đại tá Bùi Văn Bồng khẳng định công tác tổ chức và công tác cán bộ phải song song với nhau và gắn liền với việc nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng trong tình thế thực tiễn, nhưng Đài Á Châu Tự Do ghi nhận không ít các chuyên gia chính trị đưa ra lập luận việc ban hành khung tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo cấp cao của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhằm mục tiêu giải quyết triệt để cuộc tranh giành và đấu đá quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản mà họ cho rằng đang đến hồi gay cấn. Từ Paris, Pháp quốc, cựu Đại tá Bùi Tín nói với RFA quan điểm của ông:
“Tôi nghĩ rằng thì đây có thể là một thủ thuật chính trị, một mưu đồ của ông Trọng để đi tới việc vận dụng những tiêu chuẩn đó nhằm loại bỏ nhóm này hay nhóm khác đang dự định tranh giành cái ghế Tổng Bí thư mà ông Trọng chỉ muốn duy trì vị trí Tổng Bí thư không những cho đến hết nhiệm kỳ này mà còn sang nhiệm kỳ sau nữa”.

Tác động thế nào?

Trong khi đó, chúng tôi cũng tiếp xúc với người dân khắp các tỉnh, thành Việt Nam để tìm hiểu xem họ đón nhận thông tin Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành khung tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo cấp cao cũng như phổ biến tin tức liên quan rộng rãi đến công chúng như thế nào và được cho biết họ không lấy làm lạc quan vì trong số khoảng 3 triệu đảng viên, thực chất mấy ai đạt đủ tiêu chuẩn đạo đức căn bản “cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”; trái lại họ càng thất vọng do không có niềm tin rằng ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ đủ bản lĩnh và tài đức để làm trong sạch nội bộ Đảng cũng như dẫn dắt quốc gia trở thành đất nước xã hội chủ nghĩa mà chính ông từng tuyên bố “đến hết thể kỷ này không biết Chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”.
Những người dân mà Đài RFA tiếp xúc còn than phiền rằng dân chúng tại Việt Nam trong những năm vừa qua ngày càng bi quan hơn về viễn ảnh tương lai của đất nước khi bộ máy lãnh đạo của Đảng Cộng sản cồng kềnh và quan liêu ngày càng lún sâu không những trong tham nhũng tiền bạc, vật chất mà còn tham nhũng quyền lực.
Đài Á Châu Tự Do cũng ghi nhận trong cuộc trả lời phỏng vấn của Báo điện tử VTC News, đăng tải vào ngày 15 tháng 8, xoay quanh chủ đề công tác phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo đi vào giai đoạn khẩn trương và gấp rút nhất, nhà báo Nhị Lê, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản nhắc lại trong giai đoạn cách nay 10 thế kỷ vào thời kỳ Đại Cồ Việt, chỉ có 12 sứ quân đã làm loạn lạc và tan hoang đất nước và nhà báo Nhị Lê nhấn mạnh ông không thể hình dung ra được đất nước sẽ ra sao trong bối cảnh Đảng Cộng sản lãnh đạo xuất hiện tới cả hàng chục, thậm chí trăm “sứ quân” là các nhóm lợi ích.Hòa Ái

Cần cái ghế có “độ rung”(Nhân đọc bài “‘Lỗ hổng’ trong tiêu chí lựa chọn lãnh đạo cấp cao” của tiến sĩ Tô Văn Trường)

…chọn cán bộ, nhân tài lãnh đạo quốc gia thì trước hết phải chọn cái ghế có độ rung dân chủ…
Tiến sĩ Tô Văn Trường là một chuyên gia hàng đầu về thủy lợi và môi trường thì trong nước và nước ngoài ai cũng biết. Nhưng bài viết nhan đề: “Lỗ hổng” trong tiêu chí lựa chọn lãnh đạo cấp cao của ông vừa qua trên mạng xã hội (17.8.2017) thì khiến giới nghiên cứu xã hội học, chính trị học… phải suy ngẫm và tán thưởng vì tính khoa học, sắc bén, kịp thời và đầy chất humour của nó!
Ông phê phán và chỉ ra những sai lầm trong tiêu chí chọn lựa cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký. Ông chỉ rõ, về cơ bản ông Trọng là người chủ trương “Đức trị”. Tức, chọn lựa cán bộ lấy đức làm chính, không đề cập gì đến những tiêu chuẩn của pháp trị trong thời đại văn minh. Đã nói đến “Đức trị” thì không thể không nhắc đến cha đẻ của nó là Khổng Tử (551-479 trước CN). Toàn bộ triết thuyết của Khổng Tử là lý thuyết về người quân tử. Theo Khổng Tử, muốn trở thành người quân tử thì phải tu thân, để trở thành người có đạo đức (giống như học tập đạo đức Hồ Chí Minh ngày nay). Vẫn theo thầy Khổng thì đạo là các mối quan hệ mà con người phải biết để ứng xử, bao gồm: đạo vua-tôi, đạo cha-con, đạo chồng-vợ, đạo anh-em, đạo bè-bạn… được gọi là ngũ luân. Đức theo Khổng Tử có ba điều: nhântrídũng. Sau này Mạnh Tử bỏ chữ “dũng” vì sợ bề tôi có “dũng” dễ làm phản nên thay bằng lễ và nghĩa. Đến đời Hán thêm chữ tín thành năm đức: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín… được gọi là ngũ thường. Vì thế mới có câu ngạn ngữ “luân thường đạo lý”. Nói đến “luân thường đạo lý” là nói đến triết lý của Khổng-Mạnh để trị quốc.

Với lý thuyết đức trị đó, lịch sử Trung Hoa và cả Việt Nam đã thăng trầm mấy ngàn năm. Khi vua có đạo đức thì xã hội bình yên, khi vua vô đạo thì lại có cuộc khởi nghĩa đẫm máu để thay vua, thay thế triều đại… cứ thế máu đổ suốt mấy ngàn năm mà lịch sự vẫn giậm chân tại chỗ. Vẫn nghèo đói, u mê. Lý thuyết về chế độ tam quyền phân lập (khởi đầu từ Montesquieu) và dân chủ đa nguyên là một bước tiến vượt bậc của nhân loại. Từ đó, người ta thay đổi một triều đại một vị đứng đầu quốc gia bằng lá phiếu của cử tri, không cần đến máu đổ.
Vậy chọn cán bộ, nhân tài lãnh đạo quốc gia thì trước hết phải chọn cái ghế có độ rung dân chủ. Ai ngồi vào cái ghế ấy, không đủ tài, đủ đức sẽ bị độ rung của cái ghế hất văng ra. Độ rung ấy là thể chế tam quyền phân lập, chế độ đa nguyên, nhà nước pháp quyền, bầu cử tự do, báo chí độc lập… Nếu chỉ chọn cán bộ “không tham vọng quyền lực” và “kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin” như tiêu chí ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt ra mà không nói gì đến những thiết chế kể trên thì nó mơ hồ đến huyền bí! Nó lại quay về với triết thuyết Đức trị của thầy Khổng mấy ngàn năm trước! Vì thế mà tiến sĩ Tô Văn Trường đã ví, kêu gọi các tiêu chí để chọn lựa cán bộ lãnh đạo như người ta đang làm chẳng khác nào trao bằng “Tiết hạnh khả phong” cho “cô Tư Hồng”!
Lâu lắm tôi mới được đọc một bài viết giàu chất humour như thế. Hay!Lê Phú Khải

Tự do trong giáo dục

Facebook nhắc lại bài viết này tôi post cách đây tròn hai năm. Đọc lại càng bức bối cho nền giáo dục u ám nước nhà mà thế hệ này sang thế hệ khác phải chịu đựng. Đau buồn không đủ diễn tả. Phải nói là giận dữ. Nền giáo dục phi nhân bản áp đặt lên hiện tại lẫn tương lai với cái gông Marx-Lenin đã cho thấy quá rõ kết quả tồi tệ, nhưng sau bao nhiêu năm, nó vẫn được “vận dụng” và “sáng tạo”. Sẽ không bao giờ có cuộc cách mạng triệt để nào chấn chỉnh hệ thống giáo dục một khi giáo dục được định khuôn bằng ý thức chính trị cộng sản. Tôi không tin bất kỳ ai trong bộ máy lãnh đạo giáo dục có đủ khả năng thay đổi được điều này. Nền giáo dục tồi tệ này sẽ tiếp tục hành hạ và bóp chết những khái niệm căn bản trong giáo dục: khai phóng và tự do.
Việt Nam hệt như Mỹ cách đây hơn một thế kỷ, khi vào năm 1899, nhà giáo dục Mỹ William T. Harris than phiền rằng hệ thống giáo dục Mỹ đã phát triển một “cỗ máy” mà học trò chỉ biết ngồi nghe. Giáo dục là vậy sao? Giáo dục là giúp định hình nhân cách thông qua cung cấp kiến thức và tạo ra một xã hội sáng tạo, hay là chỉ sản xuất những người máy chỉ để phục tùng? Chúng ta nghe nói rất nhiều về chuyện Việt Nam còn nghèo nên không thể so với các nước phương Tây. Vấn đề có phải thực là do nghèo, hay đó là cái cớ để biện bạch một hệ thống giáo dục mục ruỗng đầy bức bối và phi tự do? Hãy thử xem một trường hợp để thấy việc đưa lý do “nghèo” chỉ là một sự lấp liếm ngụy biện.

Trường tiểu học José Urbina López nằm cạnh một bãi rác gần biên giới Mỹ-Mexico. Nó dành cho cư dân thành phố nhếch nhác Matamoros với 489.000 cư dân, một trong những điểm nóng của cuộc chiến ma túy Mexico, nơi người dân vốn quen với cảnh giang hồ bắn nhau như cơm bữa, nơi xác người bị vất bên vỉa hè… Để đến trường, học sinh phải đi trên con đường bụi bặm chạy song song với con kênh hôi thối nồng nặc. Dân địa phương gọi ngôi trường của họ là “un lugar de castigo” (nơi của sự trừng phạt). Học sinh trường José Urbina López đều nghèo, chẳng hạn em Paloma Noyola Bueno 12 tuổi, con một gia đình với ông bố làm nghề “móc rác”. Đó cũng là nơi có thầy Sergio Juárez Correa, người cũng trưởng thành cạnh một bãi rác của thành phố này.
Năm 2011, thầy giáo trẻ Correa bắt đầu tìm kiếm phương pháp giáo dục. Anh tình cờ xem một video về Sugata Mitra, giáo sư giáo dục học Đại học Newcastle (Anh). Từ cuối thập niên 1990, Mitra đã thử nghiệm mô hình giáo dục tự do bằng cách cho học sinh Ấn Độ tiếp cận máy tính và tự học. Không có bất kỳ hướng dẫn nào, các em, thế mà, vẫn tự học để biết nhiều điều, từ chuỗi ADN đến tiếng Anh. Năm 1999, Mitra là nhà khoa học máy tính tại một công ty ở New Delhi. Văn phòng ông nằm sát khu ổ chuột.
Ngày nọ, Mitra treo một máy tính trên bức tường nhìn ra khu ổ chuột và lẳng lặng quan sát. Bọn trẻ tò mò. Rồi chúng tìm cách sử dụng. Năm 2010, Mitra cài vào máy tính thông tin về vật chất sinh học phân tử và đặt máy tại Kalikuppam (ngôi làng ở Nam Ấn Độ). Ông chọn một nhóm từ 10-14 tuổi, nói với chúng rằng trong máy có “gì đó” rất thú vị. 75 ngày sau, bọn trẻ biết cách sử dụng máy tính rồi tự tìm hiểu sinh học phân tử. Mitra kiểm tra chúng bằng một bài test. Bọn trẻ trả lời đúng được ¼ câu hỏi. Sau 75 ngày nữa, với hỗ trợ một người địa phương, bọn trẻ trả lời đúng toàn bộ. Từ nghiên cứu thực nghiệm trên, Mitra bắt đầu xây dựng mô hình giáo dục tự do mà hiện được áp dụng nhiều nơi thế giới…
Mô hình Mitra thật ra không mới. Nó là sự trở về với định tính của giáo dục nguyên thủy: giáo dục là tự do chiêm nghiệm và tự do sáng tạo. Mô hình này có từ thời Socrates. Các nhà lý thuyết giáo dục, từ Johann Heinrich Pestalozzi, Jean Piaget đến Maria Montessori, đều tin rằng học sinh sẽ học bằng cách chơi và được thúc đẩy khám phá bằng óc tò mò. Albert Einstein từng trải qua một năm tại ngôi trường theo phương pháp Pestalozzi vào giữa thập niên 1890 mà sau đó ông có nhắc đến khi kể rằng phương pháp Pestalozzi đã giúp ông có được sự tự tin và tự do để thực hiện những thử nghiệm nền tảng đầu tiên cho thuyết tương đối. Hai người sáng lập Google, Larry Page và Sergey Brin, cũng nói ngôi trường theo phương pháp Montessori đã mang lại tinh thần độc lập và sáng tạo cho họ.
Năm 2009, Đại học Louisville và MIT thực hiện một nghiên cứu với 48 trẻ từ 3-6 tuổi. Bọn trẻ được chia làm hai nhóm, với cùng một món đồ chơi. Một nhóm được hướng dẫn một chức năng của món đồ chơi; nhóm kia không được hướng dẫn. Ở nhóm đầu, chúng phát hiện thêm bốn chức năng của đồ chơi; nhóm thứ hai, chúng chơi lâu hơn và phát hiện trung bình 6 chức năng… Thí nghiệm này chứng minh rằng não người tự nó đã biết học và nó sẽ học nhiều hơn bằng sự kích thích qua một xúc tác hơn là can thiệp bắt buộc.
Trở lại ngôi làng nghèo Mexico nơi có ngôi trường nghèo José Urbina López của đám học sinh nghèo và ông giáo nghèo Sergio Juárez Correa. Ngày khai giảng 21-8-2011, Correa vào lớp. Anh bắt đầu nói rằng, có những đứa trẻ trên thế giới có thể nhớ pi đến hàng trăm dấu phẩy; có thể viết giao hưởng; chế robot và thậm chí máy bay. Những đứa trẻ bên kia biên giới nước Mỹ, tại Brownsville (Texas), có laptop, internet tốc độ cao… “Tuy nhiên, các em có một thứ có thể làm các em ngang bằng với bất kỳ đứa trẻ nào trên thế giới: đó là “tiềm năng” – Correa nói. Từ đó, học trò Correa tự tìm cách khai mở tiềm năng. Từ việc dạy toán bằng cách cho tự đếm đồng xu, Correa tổ chức các buổi thảo luận về mọi đề tài. Liệu đồng tính và phá thai có nên bị cấm? Chính phủ Mexico nên làm gì về nạn di cư lậu vào Mỹ? Khi học trò hỏi phía bên kia Mặt Trăng là gì, thầy Correa không ngại nói không biết. Về tra Google, thầy trở lại lớp với câu trả lời vào hôm sau.
Ngày kia, có một con lừa lọt xuống cái giếng gần trường. Chủ lừa nói rằng con vật đã già và thà chôn luôn nó hơn là tìm cách cứu nó ra. Thế là ông ấy quyết định lấp giếng. Tuy nhiên, mớ đất hất xuống làm giếng nông hơn cuối cùng đã giúp con lừa nhảy ra khỏi dễ dàng. Lấy câu chuyện này, Correa nói với học sinh: “Chúng ta như con lừa đó, các em ạ. Mọi thứ ném vào ta đều là cơ hội để ta vươn ra khỏi cái giếng của chính mình”. Vào mùa thi cuối niên khóa, hầu hết học trò Correa đều đạt điểm cao. Điểm cao nhất của học sinh lớp Correa thuộc về em Paloma Noyola Bueno 12 tuổi, với 921. Điểm cao nhất toàn quốc cũng là 921! Cô bé mất cha và sống sát bên đống rác công cộng khổng lồ, Paloma, hệt như con lừa mà em chứng kiến. Em đã tự thân thoát khỏi cái giếng u tối không bằng một nền giáo dục khuôn mẫu, một nền giáo dục xa xỉ những lời hứa, một nền giáo dục tham nhũng mục thối từ thượng tầng; mà, đơn giản, bằng ngọn đuốc của giáo dục tự do.
clip_image002
clip_image004
Những đứa trẻ được tự do “bò ra đường” vẽ nghịch ngay tại Fifth Ave trước Central Park, New York (ảnh: MK)

Bài viết hay(5321)

 Từ xưa đến nay, bất kỳ chính quyền nào thiếu hụt tiền cho ngân sách là moi móc ngay từ hầu bao của dân qua trăm ngàn thứ thuế. Bởi vậy mà dân Mỹ ghét IRS thậm tệ khi phải è cổ ra nộp thuế thu nhập hàng năm, trừ mấy thằng nhà giàu trọc phú như Trump trốn thuế bạc tỷ mà vẫn làm TT Mỹ. CS hay Tư bản, phong kiến hay dân chủ đêu same way. Không moi tiền thằng dân thì đào đâu ra tiền để trả lương cho chính quyền? Vậy mà công chức vẫn thích quan liêu khi tiếp dân, coi dân như lũ ngu chỉ biết cày thấy tía rồi đóng thuế cho nhà nước! Dân không biết kêu ca, phản đối thì chính quyền cứ bóp thoải mái cho sướng tay chứ ngu gì mà không bóp?

Không còn ngân sách để đầu tư phát triển

clip_image002
Một người bán hàng rong đạp xe qua một trung tâm mua sắm cao cấp ở trung tâm thành phố Hà Nội ngày 19 tháng 7 năm 2017.AFP photo
Vấn đề ngân sách quốc gia bội chi hay nói cách khác là khoản thu không đủ cho các khoản chi xảy ra không ít lần tại Việt Nam.
Báo cáo của Bộ Tài chính mới công bố hồi trung tuần tháng 8 cho thấy Việt Nam lại bội chi ngân sách nửa đầu năm 2017.

Không còn tiền đầu tư phát triển đất nước

Thông tin từ Bộ Tài chính cho biết trong 7 tháng đầu năm, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 666.000 tỉ đồng (làm tròn), trong khi đó tổng chi ngân sách lũy kế sau 7 tháng ước khoảng 695.000 tỷ đồng.
Bộ này cũng nói rõ là trong số khoản phải chi tiêu thì chỉ có 120.000 tỷ đồng cho đầu tư phát triển, trả nợ lãi là gần hơn 62.000 tỷ đồng và chi thường xuyên là khoản lớn nhất với con số là hơn 511.000 tỷ đồng.
Chuyên gia kinh tế Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, hiện là thành viên Uỷ ban Chính sách Phát triển của Liên Hiệp Quốc, cho rằng việc chi tiêu ngân sách của Việt Nam nửa đầu năm 2017 rơi vào tình trạng rất căng thẳng vì quá nhiều khoản phải chi, không còn tiền để đầu tư phát triển đất nước. Ông phân tích:
Hiện nay tình hình chi ngân sách của Việt Nam rất trầm trọng. Chi thường xuyên chiếm đến 71% tổng số chi ngân sách, chi trả nợ thì chiếm đến 24,5%. Như vậy không còn khả năng chi cho đầu tư.
Cũng theo vị chuyên gia kinh tế này thì nguyên nhân dẫn đến khoản chi thường xuyên cao đến vậy là do tình trạng chi tiêu quá lãng phí:
Tình trạng chi tiêu một cách lãng phí, hình thức là hết sức phổ biến và chưa được ngăn chặn. Những khoản chi như đi nghiên cứu, khảo sát ở nước ngoài, rồi thì chi cho lễ tân, giao lưu tiếp khách đã vượt chi rất nhiều. Việt Nam lại còn chi hỗ trợ rất nhiều các tổ chức chính trị, xã hội, cũng đều chi từ ngân sách.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh đã nêu một ví dụ mà ông cho là phản cảm gần đây nhất là chuyện ông Hữu Thỉnh, người đứng đầu Liên hiệp Các hội văn học nghệ thuật đã trình với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, xin hỗ trợ mua xe ô tô cho ông. Ông này giải thích là với chức danh của ông phải được hưởng chế độ xe như bộ trưởng nhưng 10 năm nay ông phải đi mượn xe và xe đó quá cũ. Ông Thỉnh giãi bày rằng “đối với người đứng đầu Liên hiệp Các hội văn học nghệ thuật thì không thể đi chiếc xe đi mượn rách nát như vậy”.
Một chuyên gia kinh tế khác là Tiến sĩ Ngô Trí Long nhận xét rằng ngoài mức chi thường xuyên quá cao, Việt Nam còn đang phải đối mặt với một khó khăn nữa là việc trả nợ:
Nói chung thâm hụt ngân sách của Việt Nam là bệnh trầm kha, nan y. Có rất nhiều nguyên nhân, ví dụ như đầu tư công thì dàn trải, không có hiệu quả hay sử dụng vốn không có hiệu quả và thường thì kỷ luật tài chính chưa nghiêm. Quan trọng là trong cái thu ấy thì chi thường xuyên chiếm 70%. Phần lớn còn lại là để trả nợ, cho nên chi đầu tư rất thấp. Cho nên trả nợ là một trong những nguyên nhân làm cho bội chi tăng.
clip_image004
Bộ ấm chén tỉnh Vĩnh Phúc làm quà tặng. newszingvn
Theo số liệu của Bộ Tài chính cung cấp thì trong nửa đầu năm nay, Việt Nam phải chi ra 9000 tỷ đồng mỗi tháng chỉ để trả tiền lãi cho các khoản nợ.
Tính đến cuối năm ngoái, mức nợ công của Việt Nam đã là 63,6% GDP. Tuy nhiên đầu năm nay, Bộ Tài chính dự báo là năm 2017-2018 mức nợ công sẽ không dừng lại mà sẽ tăng lên đến ngưỡng 65% GDP.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết đây mới chỉ là con số mà Bộ Tài chính thừa nhận là nợ của Chính phủ và nợ do Chính phủ bảo lãnh. Ông phân tích rằng theo thông lệ quốc tế thì các khoản nợ của doanh nghiệp Nhà nước đáng lẽ ra cũng phải được tính vào khoản nợ ngân sách Nhà nước chịu trách nhiệm. Nếu tính theo cách này thì con số nợ công của Việt Nam có thể lên đến 210% GDP như Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ tài khoản quốc gia của Tổ chức Thống kê Liên Hiệp Quốc đã công bố trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn.

“Thuốc” chưa trị được “bệnh”

Tình trạng bội chi ngân sách của Việt Nam liên tục xảy ra trong những năm gần đây. Năm ngoái Bộ Tài chính cũng cho biết là mức bội chi cả năm ước tính hơn 192 ngàn tỷ đồng. Trước đó, năm 2015, bội chi 256 ngàn tỷ đồng. Năm 2014 là hơn 249 ngàn tỷ đồng.
Trước tình hình đó, Việt Nam cũng thường xuyên đề ra giải pháp là phải giảm chi thường xuyên. Tháng 11 năm ngoái, Quốc hội đã thông qua mục tiêu là giảm bội chi ngân sách xuống còn 3,5% vào năm 2020. Đầu năm nay tại Hội nghị tổng kết của ngành tài chính, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng nói rằng chi thường xuyên liên tục tăng lên thì phải hãm phanh lại dứt khoát chứ không phải dự toán rồi cứ chi.
Giải thích lý do bội chi ngân sách xảy ra triền miên nhiều năm ròng mà chưa có những biện pháp hữu hiệu để giảm bớt tình trạng này. Tiến Ngô Trí Long cho rằng các biện pháp đã được đưa ra nhưng không phải một sớm một chiều đã mang lại kết quả:
Tại vì năng suất, chất lượng, hiệu quả đầu tư kém; tham nhũng vẫn còn phổ biến. Mà biết điều đó rồi không phải giải quyết một sớm một chiều, ngày một ngày hai là được mà là cả một quá trình. Mặc dù đã sửa đổi rất nhiều cơ chế quản lý và thể chế ví dụ như nâng cao hiệu quả đầu tư công hay tăng cường kỷ luật trong chi tiêu ngân sách. Đây là một vấn đề nan giải và khó giải quyết được, giống như căn bệnh tham nhũng, đã biết từ lâu và đưa ra nhiều biện pháp nhưng thực sự chưa có hiệu quả.
Thời gian gần đây người dân bày tỏ bức xúc về những vụ việc được cho là lãng phí ngân sách nhà nước chẳng hạn như vụ tỉnh Vĩnh Phúc chi 65 tỷ đồng mua ấm chén làm quà tặng nhân dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh này. Số tiền này được lấy từ ngân sách nhà nước và vốn xã hội hóa.
Hay chuyện Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam chi hàng chục tỷ đồng làm kỷ niệm chương tặng người lao động giữa lúc ngành than phải đối mặt với với thực trạng giảm sản lượng, việc làm và thu nhập bị sụt giảm.
Tại Hải Phòng, người dân lên án việc chi 200 tỷ đồng xây công trình nhạc nước rồi bỏ không và cuối cùng phải phá dỡ đi.
Tại Gia Lai, giấy tờ sổ sách cho thấy năm 2015 Văn phòng HĐND tỉnh này đã dùng 3,2 tỉ đồng ngân sách tiếp khách trái quy định.
Đó là còn chưa kể nhiều tượng đài trị giá hàng ngàn tỷ đồng được xây dựng trong khi cuộc sống của vô số người dân còn nghèo đói, nhiều trẻ em không được đến trường.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh lại cho rằng nguyên nhân chính làm cho vấn đề chưa được giải quyết là do việc thực thi và tôn trọng luật pháp chưa được thực hiện một cách nghiêm túc:
Hầu như mỗi một cấp đều tìm cách chèo chống, tìm cách chi và có khoản thu trong đó có những khoản thu chi không báo cáo và không nằm trong sổ sách. Cho nên tình hình thực sự rất phức tạp và đã đến lúc phải thay đổi hẳn việc thu chi ngân sách của bộ máy nhà nước, các tổ chức xã hội mà dựa vào nguồn ngân sách nhà nước để sống.
Vị nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng này cũng đề xuất rằng Việt Nam cần thực hiện nghiêm việc chi tiêu tiết kiệm, truy cứu trách nhiệm của những người lãng phí ngân sách và cắt giảm số lượng các hội và tổ chức do ngân sách Nhà nước bảo trợ.Lan Hương

Tăng thuế VAT: Móc túi người nghèo chia cho người giàu!

Linh cảm quá xấu của người dân về một “chế độ móc túi” chẳng còn là trừu tượng. Tháng Tám năm nay, cơ quan tham mưu đắc lực cho Chính phủ về các chính sách “thu cùng diệt tận” là Bộ Tài chính đã “phát minh” tiếp cơ chế tăng thuế sử dụng đất và VAT (giá trị gia tăng), cùng hàng loạt sắc thuế khác…
Vietnam - Cali Today News - Một chuyên gia ngành tài chính đánh giá việc Bộ Tài chính tăng thuế VAT dù từ 5% lên 6%, 10% lên 12% nhưng thực chất là tăng tới khoảng 20% số tiền phải đóng thuế so với trước. Tức người dân sẽ phải bỏ ra 1,2 triệu đồng để mua một món hàng thay vì chỉ 1 triệu đồng như hiện nay.

Linh cảm quá xấu của người dân về một “chế độ móc túi” chẳng còn là trừu tượng. Tháng Tám năm nay, cơ quan tham mưu đắc lực cho Chính phủ về các chính sách “thu cùng diệt tận” là Bộ Tài chính đã “phát minh” tiếp cơ chế tăng thuế sử dụng đất và VAT (giá trị gia tăng), cùng hàng loạt sắc thuế khác được “nâng lên một tầm cao mới” hay “thế nước đang lên”- nói theo từ ngữ của giới tuyên giáo Đảng.
Theo cụm từ “cái chết đúng quy trình” mà tác giả là Bộ Tài chính với viện dẫn “thuế VAT ở nước ta còn thấp” và “tăng thuế VAT là nhằm bảo đảm an toàn tài chính”, từ ngày 1 tháng Giêng năm 2019, hàng chục triệu người dân sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực túi tiền còm cõi khi thuế VAT tăng lên 12%.
VAT là một loại thuế gián thu, tiền thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, người tiêu dùng là người cuối cùng chịu thuế, người nộp thuế chỉ là người thay thế người tiêu dùng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Thuế giá trị gia tăng có phạm vi tác động rộng, đánh vào hầu như tất cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường.
Thuế gián thu (trong đó có thuế VAT) lại chiếm tới 50% tổng thu ngân sách. Ngay sau kế hoạch tăng thuế VAT của Bộ tài chính, Công ty chứng khoán TP.HCM ước tính thuế giá trị gia tăng tăng 2% sẽ giúp ngân sách có thêm 59.000 tỷ đồng, từ đó tỷ trọng thuế giá trị gia tăng trong thu ngân sách sẽ tăng lên khoảng 33%.
Khi đó, người tiêu dùng cứ mua một sản phẩm nào đó là phải trả thêm một khoản “chênh lệch” lớn. Số tiền này không thuộc về người bán hàng mà chui vào ngân khố quốc gia dùng để chi xài cho chế độ.
Việc tăng thu thuế VAT sẽ làm dịu cơn đói khát của ngân sách trong thời buổi “loạn lạc”. 59.000 tỷ đồng tăng thêm chiếm khoảng 5% dự toán thu ngân sách năm 2017, là một số tiền rất đáng kể.
Mới đây, chính quyền còn tăng thuế sử dụng đất lên gấp 3 - 4 lần và đang “thí điểm” tại Sài Gòn. Con số thu thuế sử dụng đất vào những năm trước vào khoảng 100.000 tỷ đồng, và con số dự kiến thu được trong tương lai nếu đồng loạt tăng thuế sử dụng đất ở các tỉnh thành sẽ gấp ít ra vài ba lần như thế.
clip_image002
Ảnh: Youtube.
Hiện tượng Bộ Tài chính buộc phải tăng nhiều sắc thuế đánh vào đầu dân là có thể dự đoán trước, và hiện tượng này càng cho thấy rõ ràng hơn bao giờ hết tình trạng cực kỳ khốn quẫn của ngân sách.
Nếu không tăng thuế sẽ chắc chắn dẫn đến tình trạng không biết đài đâu ra tiền để “chi thường xuyên” cho đội ngũ công chức lên đến gần 3 triệu nhân mạng, trong đó có lực lượng nửa triệu quân nhân kiên định “bám bờ” và ba chục vạn công an ăn tiền đóng thuế của dân để bóp nghẹt tất cả các quyền căn bản của dân.
Với ông Bùi Trinh - một chuyên gia kinh tế độc lập, tăng VAT tức là toàn dân sẽ phải gánh chịu khi tiêu dùng bất kể sản phẩm gì dù là sản xuất trong nước hay nhập khẩu. Tăng VAT mà giảm thuế thu nhập là một hình thức đứng về phía người giàu, chia nghĩa vụ thuế lên vai toàn dân. Việc tăng thuế này sẽ khiến người nghèo càng nghèo hơn, khoảng cách giàu nghèo cũng vì thế mà cách xa hơn.
Mới đây, báo Tuổi Trẻ minh họa trường hợp một người dân thường là chị Hương. Người dân này tính: tiền điện mỗi tháng gia đình trả khoảng 550.000 đồng, trong đó gồm cả khoản thuế VAT là 50.000 đồng.
Còn tiền nước là hơn 200.000 đồng (nước có thuế suất VAT 5%). Nếu tới đây thuế VAT với điện và nước tăng theo đề xuất của Bộ Tài chính, riêng hai khoản này chị sẽ phải trả thêm khoảng 12.000 đồng.
Nhưng vấn đề là gần như sản phẩm nào cũng phải nộp thuế VAT, từ cáp truyền hình, Internet, tiền sữa, dịch vụ giáo dục, khám chữa bệnh…
Thuế VAT tăng nghĩa là từng bó rau, con cá cũng tăng, thậm chí cả những đồ dùng thiết yếu trong nhà như gạo, đường, nước mắm, muối, giấy vệ sinh, điện thoại, xăng xe…
Nhẩm riêng tiền sữa một tháng khoảng 2,2 triệu đồng, chị Hương nhận định từng khoản nộp thêm do tăng thuế VAT nhỏ nhưng cộng lại sẽ là một khoản to…
Tâm trạng chung của chị khi nghe tăng thuế là lo giá cả sẽ “té nước theo mưa”. Giả sử hàng hóa chỉ tăng bằng mức tăng thuế, mỗi tháng gia đình chị có thể tốn thêm cả triệu đồng.
“Mọi thứ đều tăng thì lấy gì bù vào? Chắc chỉ có nước thắt lưng buộc bụng” - người dân chua xót.
Tuy nhiên khi mưu toan tăng thuế đánh vào đầu dân, “Đảng và Nhà nước ta” mới chỉ nhìn thấy “tiền vào” mà chưa thấy “tiền ra”. Những hệ lụy đương nhiên của việc tăng thuế VAT là người mua sẽ phải tiết kiệm hơn, mua hàng rẻ hơn, do đó khâu tiêu thụ và kéo theo sản xuất sẽ yếu hơn, đặc biệt đối với những loại hàng cao cấp. Nền kinh tế vốn đang suy thoái sẽ càng suy thoái hơn, kéo theo khả năng thu thuế không những “đạt kế hoạch” mà còn trở nên tệ hại hơn.Thiền Lâm

Quẫn bách, Việt Nam kiên trì mục tiêu vắt kiệt sức dân


clip_image002
Việt Nam đã nhiều lần tăng thuế đánh vào xăng dầu. (Hình: Getty Images)
HÀ NỘI (NV) - Bộ Tài chính Việt Nam vừa giới thiệu kế hoạch tăng thuế giá trị gia tăng (VAT). Theo đó, từ đầu năm 2019, VAT của tất cả các loại sản phẩm, dịch vụ sẽ tăng thêm từ 1% lên 2%.
VAT là loại thuế tính trên giá trị tăng thêm của sản phẩm, dịch vụ suốt quá trình từ sản xuất, phân phối đến sử dụng và người cuối cùng trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ là đối tượng gánh khoản thuế này. Cũng vì vậy, tăng tỉ lệ VAT đồng nghĩa với việc buộc tất cả mọi người phải trả nhiều tiền hơn cho ăn uống, học hành, chữa bệnh, sinh hoạt thường nhật (điện, nước, đi lại…).

Theo truyền thông Việt Nam, Bộ Tài chính Việt Nam dự trù sẽ tăng VAT theo hai hướng: Một, nâng tỉ lệ đối với các mặt hàng đang chịu thuế VAT từ 5% lên 6%, thu 12% đối với các mặt hàng đang chịu thuế VAT 10% từ 1 Tháng Giêng năm 2019. Hai, giống y như Một, chỉ khác là tới năm 2021 VAT sẽ tiếp tục được nâng lên thành… 14%!
Ông Phạm Ðình Thi, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế của Bộ Tài chính Việt Nam biện bạch, lý do bộ này đề nghị tăng tỉ lệ VAT vì mức thuế suất mà Việt Nam đang áp dụng “tương đối thấp, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, khó đảm bảo an toàn tài chính quốc gia”.
Tuy nhiên dự tính nâng tỉ lệ VAT của Bộ Tài chính Việt Nam làm cả dân chúng lẫn các chuyên gia lo âu.
Trò chuyện với tờ Tuổi Trẻ về dự tính của Bộ Tài chính Việt Nam, nhiều phụ nữ ngụ tại Sài Gòn nhìn ra ngay viễn cảnh mọi người, mọi gia đình sẽ phải “thắt lưng, buộc bụng” chặt hơn vì cái gì cũng tăng, từ bó rau, con cá đến tiền điện, tiền nước phải thanh toán hàng tháng. Chi tiêu chung của mỗi gia đình sẽ thêm cả triệu đồng/tháng mà không biết tìm đâu ra để bù.
clip_image004
Ðồ họa của tờ Tuổi Trẻ mô tả dự tính tăng tỉ lệ thuế VAT của Bộ Tài chính Việt Nam.
Ông Ðỗ Dzoan Hảo, một giảng viên của Ðại học Tài chính-Marketing, cảnh báo, việc tăng VAT sẽ gây khó khăn nhiều hơn cho người nghèo. Tăng thuế sẽ gây ra những tác động rất lớn đến xã hội, kéo lùi tiêu dùng.
Cả dân chúng lẫn các chuyên gia cùng có chung một nhận xét là dự tính tăng thuế quá vội vã và dường như Bộ Tài chính Việt Nam chưa nhìn vào mức sống của số đông dân chúng. Một luật sư tên là Trần Xoa nói thêm rằng, tăng thuế phải gắn với sự minh bạch về chi tiêu để dân chúng có thể giám sát.
Ông Ðỗ Thiên Anh Tuấn, một giảng viên của chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, lưu ý, nguồn thu từ VAT của Việt Nam hiện nay đã chiếm 30% tổng thu từ thuế. So với nhiều quốc gia khác là quá cao (gấp ba mức phổ biến). Tăng tỉ lệ thu VAT chưa chắc đã giúp công khố có thêm tiền mà có thể còn làm phúc lợi xã hội tổn thất nhiều hơn.
Ông Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Trưởng khoa Tài Chính của Ðại học Kinh tế Sài Gòn, khẳng định với tờ Người Lao Ðộng rằng, dự tính tăng thuế VAT là “tín hiệu không tốt cho nền kinh tế” bởi điều đó cho cho thấy thâm hụt ngân sách đang tăng. Tăng thuế tất nhiên nhằm gia tăng nguồn tiền cho ngân sách nhưng đó cũng chính là nguyên nhân khiến lãi suất tăng, chi phí của doanh nghiệp tăng, chi tiêu của dân chúng tăng theo và tác động bất lợi cho tăng trưởng kinh tế. Chưa kể tăng thuế có thể tác động bất lợi cho chính sách tiền tệ của Ngân hàng Quốc gia, nếu cơ quan này phải kiềm đà tăng lãi suất bằng cách bơm thêm tiền vào thị trường thì lạm phát tăng… Ông Bảo nhấn mạnh, tăng thuế sẽ dẫn đến nhiều hậu quả khó lường.
Ngay cả viên chức ngành thuế cũng cảm thấy dự tính tăng thuế VAT của Bộ Tài chính Việt Nam không ổn. Trò chuyện với phóng viên tờ Người Lao Ðộng, một viên thanh tra của Cục Thuế Sài Gòn phân tích, nhiều quốc gia Ðông Nam Á đang duy trì VAT ở mức từ 5% đến 7% nhằm kích thích tiêu dùng, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Nếu Việt Nam tăng VAT thêm 2%, tiêu dùng sẽ chậm lại ảnh hưởng tới tăng trưởng. Chưa kể giới đầu tư ngoại quốc thường chỉ đổ vốn vào các quốc gia có chỉ số tiêu dùng cao. Thành ra việc tăng tỉ lệ VAT có thể trở thành hàng rào, ngăn cản cả tăng trưởng kinh tế lẫn thu hút vốn đầu tư ngoại quốc.
Ở vị trí đại diện Bộ Tài chính Việt Nam, ông Thi thừa nhận, việc tăng tỉ lệ VAT có thể vi phạm cam kết ưu đãi về thuế đối với giới đầu tư nhưng vẫn phải điều chỉnh để “phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay”. Việt Nam đang chuyển sang khuynh hướng “thu hút đầu tư có chọn lọc”.
Trong vài năm gần đây, Việt Nam liên tục bội chi phải vay mượn nhiều hơn để chi tiêu và để trả các khoản nợ đã đến hạn thanh toán. Ðó cũng là lý do chính quyền Việt Nam tìm đủ lý do để tăng thuế.
Tháng trước, Bộ Tài chính Việt Nam từng làm cả dân chúng, báo giới lẫn các chuyên gia nổi xung vì vẫn khăng khăng đề nghị thu thêm 8,000 đồng/lít xăng cho cái gọi là “thuế bảo vệ môi trường” dù điều đó sẽ làm vật giá đồng loạt gia tăng, cả hoạt động kinh tế lẫn sinh hoạt xã hội vốn đã hết sức khó khăn sẽ còn khó khăn nhiều hơn. Tháng này, cũng Bộ Tài chính Việt Nam giới thiệu “sáng kiến” tăng tỉ lệ VAT. Người ta tin rằng, Bộ Tài chính Việt Nam, chính xác hơn là Chính phủ Việt Nam hiểu rất rõ các hậu quả tai hại của chuyện liên tục tăng mức thu của đủ loại thuế nhưng họ vẫn làm vì đang trong tình trạng hết sức quẫn bách. (G.Ð)Người Việt

Vụ án Trịnh Vĩnh Bình

Kỳ 1: Đi theo tiếng gọi ‘Về nước đầu tư’

Trước năm 1975, gia đình ông Trịnh Vĩnh Bình có một cửa hàng bán sỉ vải ở Thương xá Châu Hải Thành, quận 6, Sài Gòn.
Gia đình ông còn làm thêm nghề nuôi tằm, dệt vải.
Năm 1976, ông cùng vợ, 3 con và vài anh em vượt biên ra nước ngoài. Sống tại trại tạm cư Songkhla, Thái Lan, hơn 4 tháng thì gia đình được sắp xếp đi định cư theo diện tị nạn tại Hà Lan.
Năm ấy, ông Bình 29 tuổi.

“Vua Chả Giò”

Những năm đầu chân ướt chân ráo đến quốc gia Âu châu xa lạ, ông Bình kiếm sống bằng cách đi “làm hãng” và làm nghề thông dịch viên, mặc dù “vốn tiếng Hà Lan còn rất yếu”.
Nung nấu ý định tiếp tục kinh doanh, ngoài giờ làm, ông tranh thủ đăng ký học khóa vải sợi thời trang tại Đại học Mở Detex Amsterdam, với ý định sẽ làm giàu với nghề “gấm hoa” đã từng có nhiều kinh nghiệm từ Việt Nam.
Tuy nhiên, sau những lần đi khảo sát và phát hiện thị trường vải sợi châu Âu những năm đầu thập niên 1980 xuống dốc trầm trọng, trong khi ngành thực phẩm lại có nhiều cơ hội phát triển, ông Bình nảy ý định chuyển sang kinh doanh thực phẩm xuất khẩu ra thế giới.
Tốt nghiệp đại học năm 1984, ông bắt đầu đăng ký làm đại lý xuất khẩu các mặt hàng thực phẩm có tiếng như sữa đặc Omela của hãng C.C. Firesland (tức sữa “Cô gái Hà Lan” hiện nay), xì dầu Maggi của hãng Nestle…
clip_image002
Ông Trịnh Vĩnh Bình trong một chuyến về thăm dò thị trường đầu tư ở Việt Nam cùng nhóm doanh nghiệp Hà Lan.
Nhập quốc tịch Hà Lan năm 1985, ông tiếp tục học lấy bằng Quản trị Kinh doanh. Sau khi tốt nghiệp năm 1986, ông mở thêm hai tiệm thực phẩm (loại mini market) tại Hà Lan và bắt đầu nghiên cứu sản xuất chả giò, món ăn khai vị rất được ưa thích của Việt Nam, theo công nghệ tự động.
Năm 1989, sau khi xây dựng xong nhà máy sản xuất chả giò, ông Bình bắt đầu cung cấp chả giò cho các hệ thống siêu thị tại Hà Lan, sau đó là Bỉ và Anh quốc.
Trong một thời gian ngắn, thương hiệu chả giò Trinh’s (Trịnh) đã được biết tiếng và xếp hàng thứ 3 trên thế giới, chỉ sau Mora của Unilever và Duif của Bols Wassanen.
Ông Trịnh Vĩnh Bình trở thành triệu phú tại Hà Lan với biệt hiệu “Vua Chả Giò”.
clip_image004

Trở về

Ý định về Việt Nam đầu tư xuất phát từ một lần ông Bình đến Tòa đại sứ Việt Nam tại Pháp (lúc đó Việt Nam chưa có đại sứ quán tại Hà Lan) để xin visa về nước thăm gia đình.
“Khi tôi đến xin visa, bên sứ quán ra tiếp chuyện. Khi biết tôi có làm ăn bên Hà Lan, họ bắt chuyện và tìm cách khuyến khích tôi về Việt Nam nghiên cứu đầu tư”. Ông Bình nói với VOA.
Những ngày sau đó, vào dịp Tết hay bất cứ cuộc hội thảo khuyến khích đầu tư nào của Việt Nam, ông Bình đều nhận được thư mời của Chính phủ Việt Nam và đến tham dự.
Tháng Hai, 1990, ông Bình quyết định về “khảo sát thị trường”.
Trong cuộc phỏng vấn với VOA ngày 7 tháng Tám, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan giai đoạn 1998 - 2001, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nhớ lại, ông Trịnh Vĩnh Bình “không chỉ xin tư vấn về pháp lý”, mà còn “xây dựng các quan hệ rất chặt chẽ với các địa phương nơi ông ấy cư trú và hoạt động kinh doanh”.clip_image006
Ông Bình tham quan địa điểm đầu tư tiềm năng tại Việt Nam vào tháng 4/1990.
Cựu Đại sứ Việt Nam cũng cho biết công tác ngoại giao của Việt Nam trong giai đoạn này tập trung vào chiến lược hội nhập quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài. Chính sách khuyến khích đầu tư vào Việt Nam được đưa ra nhằm “khai thác tối đa lợi ích của đầu tư trực tiếp từ nước ngoài” (FDI), vì so với viện trợ ODA, “nguồn tiền FDI có chỗ linh hoạt hơn rất nhiều”.
Việt Nam, sau 10 năm trở lại, khác xa với những gì ông Bình hình dung.
“Khi về Việt Nam, tôi thấy rõ ràng, Việt Nam sau một thời gian xa vắng đã thay đổi quá nhiều. Thay đổi tệ đi quá nhiều. Là một người làm kinh doanh, tôi thấy rõ bây giờ mình có sự chọn lựa: tiếp tục kinh doanh ở xứ người hay là về đầu tư thử ở Việt Nam. Lúc đó tôi chỉ nghĩ là thử thôi”.
Khi bàn bạc với gia đình về quyết định đầu tư vào Việt Nam, ông Trịnh Vĩnh Bình cho biết gia đình ông “chia làm 2 phe”.
Một bên ngăn cản, cho là về Việt Nam “rất nguy hiểm”.
Một bên ủng hộ, cho là “sớm, có nguy hiểm, nhưng cũng là cơ hội”.
Bản thân ông Bình đánh giá Việt Nam lúc này “có một khoảng trống lớn” để đầu tư.
clip_image008
Ông nói với VOA: “Lá rụng về cội, thâm tâm tôi cũng đã nghĩ một ngày nào đó sẽ về Việt Nam đầu tư”.
Quyết định bán cơ sở kinh doanh tại Hà Lan, tháng Sáu, 1990, ông Trịnh Vĩnh Bình bắt đầu chuyển những đồng đôla đầu tiên về nước.
Sau gần 60 lần nhập cảnh, ông Bình mang về nước 2,328,250 đôla và 96 ký vàng, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán, Tổng cục Hải quan Việt Nam và Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất.
__________
Kỳ sau: Quyết định đầu tư vào Việt Nam của ông Bình có “nguy hiểm” như cảnh báo của thân nhân không? Làm thế nào chỉ trong khoảng hơn 6 năm, ông Trịnh Vĩnh Bình đã nhân giá trị đầu tư ban đầu lên hơn 8 lần? Xin theo dõi tiếp Kỳ 2: “Lên như diều gặp gió”.

Kỳ 2: Lên như diều gặp gió

VOA - Trịnh Vĩnh Bình, “Vua Chả Giò” tại Hà Lan, vào năm 1990 quyết định về Việt Nam “khảo sát thị trường” sau khi được giới chức ngoại giao Việt Nam tại Châu Âu khuyến khích. Sau gần 60 lần nhập cảnh, ông mang về nước gần 2,5 triệu đô la và 96 ký vàng, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán, Tổng cục Hải quan Việt Nam và Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất. Từ đây, ông bắt đầu sự nghiệp bằng cách đầu tư vào nhiều lãnh vực khác nhau, thành công rất nhanh, theo như nhận định của cựu Đại Sứ Việt Nam tại Hà Lan thời đó, tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng: “Nhờ tính năng động và chủ động như vậy mà giai đoạn đầu, ông Bình trở nên thành công và khá nổi tiếng ở Việt Nam”. Và cũng chính sự thành công vượt bậc này đặt ông Bình vào thế rủi ro. Mời độc giả theo dõi sau đây.
***
clip_image010
Sài Gòn năm 1998. (Ảnh: Reuters)
Những ngày đầu về Việt Nam đầu tư, ông Trịnh Vĩnh Bình nhìn đâu cũng thấy cơ hội kiếm tiền.
Đặt chân tới Sài Gòn, ông thấy ngay thành phố vốn từng mệnh danh “Hòn ngọc Viễn Đông” này rất thiếu khách sạn, nhất là khách sạn cao cấp dành cho khách phương xa.
“Tôi thấy rõ ràng Việt Nam thiếu khách sạn tốt. Thời đó chỉ có khách sạn mini, 5, 6 phòng trong gia đình lấy ra làm. Nên đầu tiên, tôi đầu tư mua mấy căn nhà ở đường Trần Hưng Đạo, đó là cao ốc 10 tầng xây dang dở, bỏ từ năm 1995 tới giờ, sát bên Công an thành phố”, ông Bình kể.
clip_image012
Cao ốc khách sạn 286 Trần Hưng Đạo đang được xây dựng thì bị ngưng vì vụ án.
Với kinh nghiệm làm thủy sản và xuất khẩu, thương gia mang quốc tịch Hà Lan tiếp tục về Hậu Giang thuê một xí nghiệp đông lạnh và thu mua thủy sản về gia công xuất khẩu.
“Nhưng bị họ đổi hàng, rồi họ làm theo cách nói tóm tắt là tôi thấy không được, hoặc tôi quán xuyến không được. Rốt cuộc, sau một thời gian làm, tôi lỗ khoảng 70.000 đôla”.
Nhận thấy đầu tư theo cách đó không ổn, ông Bình nghĩ đến hướng làm ăn lâu dài.

Cải tổ xí nghiệp

Ông tìm hiểu thị trường ở một số nơi khác và quyết định chọn Vũng Tàu để đầu tư.
Trịnh Vĩnh Bình bắt đầu bằng việc mua lại xí nghiệp Liên doanh Nuôi trồng Thủy sản ở Phước Cơ.
clip_image014
“Họ hợp tác với thành phố Vũng Tàu nhưng họ làm lỗ. Họ có mấy chục công nhân và sắp phá sản. Tôi vô thấy cơ ngơi của họ và nghĩ rằng mình có thể thay đổi được”.
“Lúc đó họ có khoảng 50-60 công nhân thôi, mà phần đông là dưới tuổi thành niên”.
Bắt tay vào gầy dựng lại nhà máy, việc đầu tiên ông Bình làm là cho đội ngũ lao động dưới tuổi thành niên nghỉ việc. Ông trả thêm cho họ một số tháng lương và khuyên họ quay trở lại trường học, đồng thời hứa sẽ ưu tiên nhận họ trở lại làm việc sau khi tốt nghiệp.
Sau đó, ông bắt đầu thay đổi thiết bị và cải tổ quy trình sản xuất.
Bên cạnh các mặt hàng thủy hải sản, ông Bình còn đưa vào chế biến thêm các mặt hàng nông sản, rau quả để xuất khẩu như chuối lá xiêm, thơm, xoài đông lạnh… xuất khẩu sang châu Âu và Mỹ.
Trong một tài liệu ông Trịnh Vĩnh Bình gửi cho Chính phủ Việt Nam khoảng 7 năm trước để trình bày về mục đích đầu tư cũng như ước mơ làm kinh tế tại Việt Nam, doanh nhân này cho biết chỉ trong vòng hai năm (1993 - 1995), sản lượng xí nghiệp từ 80-100 tấn/năm đã tăng lên thành 1.500 tấn/năm, trong khi tổng sản lượng cả tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu lúc đó chỉ 6.675 tấn (năm 1995).
clip_image016
Các công nhân tại Nhà máy Hải sản ở Phước Cơ, Thành phố Vũng Tàu.
Số lượng công nhân của xí nghiệp cũng tăng, từ vài chục người lên gần 400 người vào năm 1996.
Thời gian này, luật Việt Nam chưa cho phép người nước ngoài hay Việt kiều đứng tên trong các doanh nghiệp trong nước, nên ông Trịnh Vĩnh Bình nhờ thân nhân và bạn bè đứng tên hộ. Việc đứng tên hộ được xác nhận qua giấy ủy quyền và giấy giới thiệu có chứng nhận của Lãnh sự quán Việt Nam tại Pháp.
Luật gia Lê Mai Anh, nguyên cán bộ Viện Kiểm sát Tối cao, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng Hội Luật gia Việt Nam, người chỉ biết ông Trịnh Vĩnh Bình qua hồ sơ vụ án, cũng chứng thực điều này với VOA.
“Ông ấy đứng tên người khác theo đúng hướng dẫn của Chính phủ Việt Nam là ông phải đứng tên người khác. Vì lúc ấy, luật không cho người nước ngoài, người có quốc tịch nước ngoài mua, nên ông ấy phải đứng tên người khác”.
clip_image018
Những công ty mà ông Trịnh Vĩnh Bình thành lập, như Công ty TNHH Tín Thành tại TP.HCM (năm 1992) và Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Phát triển Công nghiệp Bình Châu tại Vũng Tàu (năm 1993), đều dưới hình thức “đội nón” trên, vốn là xu hướng phổ biến tại Việt Nam trong giai đoạn này.
Mãi đến tháng 11/1996, ông Trịnh Vĩnh Bình mới có tên chính thức trong Công ty Bình Châu, dựa vào Luật khuyến khích Đầu tư Việt Nam ban hành năm 1995.

Nghiên cứu, trồng rừng

Ngoài sản xuất trực tiếp, Công ty Bình Châu còn xây dựng Trung tâm nghiên cứu, quy tụ một số chuyên viên giỏi từng học ở châu Âu và các chuyên viên thủy sản trong nước để nghiên cứu các chủng loại thủy hải sản mới và thực hiện các đề án phòng chống bệnh, nhân giống thủy hải sản cung cấp cho nông dân.
Ông Trịnh Vĩnh Bình cho biết trong năm 1996, Công ty Bình Châu nhận được tài trợ quốc tế cho hai đề án: Đề án cua tự sinh sản và đề án phòng chống bệnh cho tôm, cá.
clip_image020
Trung tâm nghiên cứu gây giống nuôi trồng thủy sản đặt ngay tại ao nuôi tôm, cá, cua. Hiện đang bị bỏ hoang. (Ảnh chụp tháng 11/1998)
Trong tờ tường trình gửi Chính phủ Việt Nam, ông Trịnh Vĩnh Bình cho biết đề án cua tự sinh là đề án mà thế giới đang đeo đuổi vào thời điểm đó, nhưng chưa thành công vì tỉ lệ sống rất thấp, chỉ đạt 3% - 4%.
Trong khi đề án nghiên cứu của Công ty Bình Châu đang tiến triển tốt thì xảy ra vụ bắt ông Trịnh Vĩnh Bình, khiến dự án này bị bỏ ngang. Một trong những chuyên viên nghiên cứu đề án này sau đó đã đoạt giải xuất sắc trong kỳ thi cho cua đẻ nhân tạo ở Philippines, với tỉ lệ cua sống đến 17%.
Với ước mơ nhân rộng các rừng thông tại Việt Nam, theo mô hình vùng Quinta Do Lago của Bồ Đào Nha, cộng thêm chính sách khuyến khích trồng rừng, phủ xanh đồi trống, đồi trọc của Việt Nam vào thời điểm này, ông Trịnh Vĩnh Bình cùng một số chuyên viên bắt đầu nghiên cứu trồng thí nghiệm thông ở Đèo Nước Ngọt Long Hải và lập các vườn ươm thông giống.
clip_image022
Ông Trịnh Vĩnh Bình mua nhiều khu đất để trồng rừng, hưởng ứng chính sách khuyến khích phủ xanh đồi trống, đồi trọc của Việt Nam.
Ông Bình cho biết lúc ông bị bắt, vườn ươm với gần 500.000 cây thông giống đã được 3,5 tuổi, đủ để trồng khoảng 200 ha. Theo dự tính, số thông này khi được 8 tuổi sẽ bắt đầu cho hạt giống. Khoảng 200 ha trồng đợt đầu sẽ được nhân giống và đủ cung cấp cho cả nước.

Kinh doanh tương lai

Không dừng lại ở sản xuất, xuất khẩu, ông Trịnh Vĩnh Bình còn “lấn sân” sang lĩnh vực du lịch.
“Tôi nghĩ thành phố Vũng Tàu mạnh về du lịch. Tôi lại có được bản vẽ quy hoạch ở khu vực sông Thị Vải. Dọc sông này sẽ là cả một khu kỹ nghệ. Thời đó, tôi có một bài toán…”
Bài toán kinh doanh của ông Bình bắt nguồn từ những cuộc triển lãm ở châu Âu mà năm nào ông Bình cũng tham dự.
Lần gặp gỡ với Giám đốc tập đoàn Janssen, chuyên sản xuất bìa hồ sơ nổi tiếng của Đức, khiến ông nảy ra ý tưởng kinh doanh trong tương lai.
Ông tính toán cho vị thương gia người Đức thấy việc chuyển cơ sở sản xuất về Việt Nam mang lại lợi nhuận như thế nào.
“Tôi nghĩ là mình dùng cách di chuyển những kỹ nghệ của Hòa Lan, và sau này có thể là các nước lân cận nữa, sang Việt Nam. Thì một thị trường còn non trẻ, với thị trường lao động đang khát, nếu họ [các nước châu Âu] đầu tư thì cả hai đều có lợi. Việt Nam có lợi và phía đầu tư cũng có lợi”.
“Lúc đó, tôi có bài toán đơn giản lắm. Bây giờ tôi có miếng đất. Tôi không cần làm gì hết, mà chỉ đem nó đi góp vốn cho ông. Tôi trở thành 25%, 30% [cổ phần]. Ông có lãi, có lợi nhuận, ông chia cho tôi. Ông không cần phải trả tiền thuê gì hết. Đại khái như vậy. Do đó, lúc sau này tôi mua một lúc nhiều đất ở khu vực đó là như vậy. Lý do là vì tôi biết sau này nó sẽ trở thành một khu công nghệ”.
Từ Vũng Tàu, ông Trịnh Vĩnh Bình tiếp tục mua thêm đất đai ở các khu vực khác để thực hiện ý tưởng này.
“Lúc đó, tôi lên Sở Quy hoạch TP.HCM và biết được có một bản đồ [quy hoạch] và biết được trong tương lai, Long Thành sẽ có một sân bay lớn để thay thế phi trường Tân Sơn Nhất. Lúc đó, tôi mua một số mặt bằng ở đó và tính là một số công ty sẽ cần trụ sở hoặc nhà kho sát phi trường. Ngoài ra, tôi cũng tìm ở những địa điểm du lịch, mua những căn nhà ở Bãi Trước [Vũng Tàu]… Nói chung là tôi có những bài toán lâu dài, chứ không phải như Việt Nam nói là kinh doanh địa ốc”.
Cứ như thế, trong vòng hơn 6 năm, giá trị số vốn ban đầu ông Bình đưa về Việt Nam được nhân lên hơn 8 lần.
clip_image024
Trụ sở của Công ty Bình Châu tại 16B phố Võ Thị Sáu, Phường 2, Thành phố Vũng Tàu. (Hình chụp trước năm 1997)
Báo Công An nhân dân ngày 6/6/2005 cho biết đến ngày ông Bình bị Cơ quan An ninh Điều tra tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bắt giữ (5/12/1996), ông nắm trong tay 11 căn nhà, 114 nền nhà và 2.847.745 m2 đất.
Tuy nhiên, với nhu cầu mở rộng quy mô và nâng cấp xí nghiệp nhằm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, ông Trịnh Vĩnh Bình cho biết ông bị kẹt vốn nên phải bán đi một số căn nhà, đất đai.
“Có một điểm mà trong hồ sơ của tôi, mà Việt Nam cũng biết, là tôi chưa từng chuyển một đồng nào về bên đây [Hà Lan] hết. Cứ chuyển nhượng được một vài miếng đất thì lấy tiền đó đắp vô việc mở rộng đầu tư”, ông Bình cho biết.
Cựu Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nhận định với VOA:
“Cũng nhờ tính năng động và chủ động như vậy mà giai đoạn đầu, ông Bình trở nên thành công và khá nổi tiếng ở Việt Nam”.
Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng nói thêm rằng “chính sự thành công quá nhanh và sự nổi trội trong tư cách một doanh nhân Việt kiều của ông Bình đã tạo ra một sự cuốn hút không bình thường”.
Kỳ sau: Vì sao sự thành công quá nhanh của ông Bình tại Việt Nam đã gây ra “sức cuốn hút không bình thường”? Đâu là những cái “bẫy” và những con “cò” lợi dụng làn “nước đục” trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình? Chuyên gia đánh giá thế nào về khía cạnh pháp lý của vụ án? Xin theo dõi tiếp Kỳ 3: Vụ án “lên đến Bộ Chính trị”.

Kỳ 3: Vụ án ‘lên đến Bộ Chính trị’

VOA - Với số tiền gần 2,5 triệu đô la và 96 kg vàng mang về Việt Nam đầu tư, ông Trịnh Vĩnh Bình kinh doanh ở mọi lãnh vực: khách sạn, thủy sản, hải sản, xuất khẩu, nông sản, rau quả, trồng rừng… Nhưng chiến lược nhất, có lẽ là lãnh vực đất đai, vì theo như lời ông, “tôi có những bài toán lâu dài chứ không phải như Việt Nam nói là kinh doanh địa ốc”. Ngay vào thời điểm đó, ông đã mua nhiều mặt bằng sát nơi được quy hoạch sau này xây phi trường Long Thành, để làm trụ sở công ty và xây nhà kho. Trong vòng 6 năm, giá trị số vốn ban đầu ông Bình đưa về Việt Nam được nhân lên hơn 8 lần. Và cũng từ đây, con đường lao lý bắt đầu mở ra, đưa đến “vụ án Trịnh Vĩnh Bình” mà việc giải quyết phải “theo ý kiến chỉ đạo và báo cáo kết quả với Thường vụ Bộ Chính trị”. Xin theo dõi sau đây.
***
Với những dự án tiềm năng đang tiến triển nhanh và mạnh, con diều đầu tư đang “no gió” của Trịnh Vĩnh Bình bắt đầu đi vào vùng bão tố.
“Năm 1996, phát sinh từ chuyện trong công ty, những người làm trong đó, có cả người trong gia đình, tìm cách ăn cắp một số tiền khá lớn, khoảng mấy trăm ngàn đôla”. Ông Bình nhớ lại.
Câu chuyện đổ bể. Ban giám đốc cũ bị sa thải. Ban giám đốc mới của Công ty Bình Châu muốn đem vụ việc giải quyết rõ ràng nên trình báo công an.

Ra công đường

Theo lời ông Bình, nhóm bị sa thải gồm 3 người, trong đó có người ông nhờ đứng tên doanh nghiệp và tài sản. Sau đó, lo sợ bị bắt và phải trả lại tiền, nhóm này đút lót cho phía an ninh để tìm sự che chở.
“Khi họ [an ninh] nhảy vô, thì bên này những người ăn cắp đồ lại trở thành người hợp tác với họ. Họ ra tay trước. Họ chụp mũ tôi đầu tiên về tội trốn thuế rồi họ bắt tôi”. Ông Bình kể với VOA.
clip_image026
Trụ sở của Công ty Bình Châu tại 16B phố Võ Thị Sáu, Phường 2, Thành phố Vũng Tàu. (Hình chụp trước năm 1997)
Ông Bình cho biết khi công an đến khám xét và tịch thu đồ đạc trong Công ty Bình Châu, ông đang ở Hà Lan và nhận được cảnh báo từ luật sư của mình lúc bấy giờ: “Đừng về, bên an ninh đang chuẩn bị bắt anh đấy”.
“Tôi nghĩ tôi đâu có làm gì sai đâu mà sợ. Tôi vẫn về. Đầu tiên là Thiếu tá Ngô Chí Đan mời tôi lên văn phòng. Vì ở Hà Lan làm ăn theo kiểu mở cửa minh bạch, tôi không biết đút lót. Nếu lúc đó mà tôi biết đưa cho họ một số tiền, đưa cho họ một bì thư lớn thì họ đã dẹp vụ này rồi. Nhưng tôi không biết”. Vẫn lời ông Bình.
Trong cuộc nói chuyện với viên chức đứng đầu phòng điều tra Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (PA 24), ông Bình cho biết ông đã cố gắng trình bày những ý nguyện, hoài bão tốt đẹp mà ông ấp ủ muốn làm tại Việt Nam.
Nhưng, những điều ông nghĩ không giống với điều “họ” nghĩ. Ông Bình nói: “Họ đâu cần nghe những điều đó đâu. Họ cần nhìn thấy cái bì thư. Nhưng tôi lại không biết”. “Khi chuẩn bị về, ảnh có nói một câu ‘Thôi, tôi nghe rồi. Anh cứ về đi rồi tôi suy nghĩ lại’”.
Trả lời phỏng vấn VOA ngày 14/7/2017, ông Trịnh Vĩnh Bình nói sau này ông mới biết Ngô Chí Đan cùng với người anh rể là Phạm Văn Phương (thường được gọi là “Phương Xoăn” hay “Phương Vicarrent”), “dính” đến nhiều vụ khác, được báo chí trong nước nhắc nhiều trong hai năm 2003, 2004.
Chẳng hạn, báo chí tường thuật lời khai của các nhân chứng, bị can, bị hại… trong Vụ án Phương Vicarrent cho biết thế lực của nhóm này lớn đến nỗi có thể thay cả Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, khiến hầu hết doanh nghiệp, kể cả nhiều quan chức địa phương, đều phải khiếp sợ và tự động nộp tiền để được yên thân, theo báo Người Lao Động ngày 9 tháng Tư, 2004.
Giám đốc Công ty Xây dựng và Phát triển Đô thị Bà Rịa-Vũng Tàu thời đó, ông Nguyễn Minh Hoàng, khai ông nộp tiền “không phải do sợ Phương mà là sợ những người đứng phía sau bị cáo”, theo VnExpress ngày 3/12/2003.
Vị giám đốc này còn cho biết “Phương nắm rất nhiều thông tin về chuyện làm ăn của công ty mà tôi chắc rằng những thông tin này chỉ có từ cơ quan chuyên môn. Tôi rất sợ quyền lực đen của Phương vì tôi thấy nó cực kỳ mạnh”, vẫn theo VnExpress.

Bị bắt

Ngày 5/12/1996, ông Trịnh Vĩnh Bình chính thức bị bắt với cáo buộc tội “trốn thuế”.
Cáo buộc ban đầu này sau đó nhanh chóng được chuyển đổi thành “vi phạm các quy định về quản lý đất đai” và tội “hối lộ”, vì “thiếu căn cứ”, theo lời Luật sư Nguyễn Minh Tâm, một trong những luật sư của ông Bình lúc bấy giờ, nói với VOA:
“Đầu tiên là khởi tố về tội trốn thuế. Quan điểm của chúng tôi cho rằng không [đủ chứng cứ] cấu thành tội trốn thuế. Sau đó chuyển sang tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai và một số việc khác”.
Ông Bình cho biết sau khi cơ quan chức năng đọc lệnh bắt, ông lên tiếng phản đối, nói “Tôi vô tội”, và yêu cầu thông báo vụ việc cho Đại sứ quán Hà Lan.
Ông Trịnh Vĩnh Bình bị tạm giam hơn 18 tháng trước khi được đưa ra xét xử.
Trong thời gian này, ông Bình cho biết ông không được phép tự ý chọn luật sư, mà PA 24 chỉ định luật sư cho ông và buộc ông phải trả 50 triệu đồng cho luật sư này.
Ông Bình kể với VOA rằng điều kiện giam giữ khắc nghiệt trong thời gian này đã khiến ông suy sụp hoàn toàn và từng nghĩ đến chuyện tự tử.

Chỉ đạo

Bị tạm giam, có lẽ ông Bình không biết được rằng, chuyện của ông được thảo luận căng thẳng ở nhiều cấp, từ địa phương đến trung ương, xoay quanh việc “xử lý” mình.
Văn bản VOA Việt Ngữ có được, ghi lại cuộc họp ngày 3/5/1998 tại trụ sở Tổng cục I-Bộ Nội vụ TP.HCM của Ban chỉ đạo liên ngành bao gồm Bộ Nội vụ, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Tòa án Nhân dân Tối cao, Ban Nội chính Trung ương cho thấy cuộc họp có sự hiện diện của hàng chục giới chức cấp cao như Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Khánh Toàn, Phó Viện trưởng VKSNDTC Phạm Sỹ Chiến, Phó Chánh án TANDTC Mai Ngọc Trinh, Vụ trưởng Ban Nội chính Trung ương Trần Đại Hưng…
clip_image030
Theo văn bản này, “hoạt động của ông Trịnh Vĩnh Bình từ năm 1990 đến khi bị bắt là vi phạm pháp luật Việt Nam rất nghiêm trọng” và việc “xử lý Trịnh Vĩnh Bình đúng pháp luật vừa đảm bảo được sự nghiêm minh của pháp luật, vừa bảo vệ chủ quyền Việt Nam và giải quyết được vấn đề đối ngoại”.
Văn bản ghi rõ “hành vi phạm tội cụ thể của Bình là: Vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai (điều 180 BLHS) và tội hối lộ cho Nguyễn Văn Huề 100 triệu đồng thông qua trung gian là các tên Thanh và Luyện (điều 227 BLSH)”.
VOA đề nghị phỏng vấn và xác minh văn bản này với đại diện Bộ Tư pháp Việt Nam nhưng không nhận được câu trả lời.
Một trong hai nhân vật có tên trong văn bản này, sau này, vào tháng Bảy, 2002, làm một “Đơn xin minh oan cho ông Trịnh Vĩnh Bình”, trong đó có đoạn, do biết có xung đột giữa mình và Trịnh Vĩnh Bình, “Ngô Chí Đan và ông Nguyễn Đức Trịnh đã lợi dụng cơ hội này xúi tôi vu cáo ông Trịnh Vĩnh Bình, mục đích để tịch thu tài sản”.
Ngày 12/6/1998, Ban Thường vụ Đảng Cộng sản của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gửi một văn bản gửi cho Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Thủ tướng Phan Văn Khải để xin ý kiến chỉ đạo. Văn bản có đoạn viết: “Vụ án [Trịnh Vĩnh Bình] này dư luận trong xã hội đang quan tâm, nhất là cán bộ hưu trí cựu chiến binh là: Ta xử hay không xử”.
clip_image032
Ngoài ra, văn bản này cũng nêu lên những “khó khăn” của địa phương về ý kiến trước đó của Viện Kiểm sát Tối cao đề nghị cho phép ông Bình tại ngoại. Ban Thường vụ tỉnh cho biết gặp khó khăn trong việc xác định mức tiền đóng tại ngoại “tương xứng với sự vi phạm nghiêm trọng” và sẽ khó đảm bảo ngăn chặn việc thông cung, nội bộ công ty [của ông Bình] thanh toán lẫn nhau và ông Bình có thể bỏ trốn ra nước ngoài.
Do đó, vẫn theo văn bản ngày 12/6/1998, Ban Thường vụ tỉnh đề nghị tòa án xét xử ngay vì “đã có kết luận tội của Bình. Sau khi có bản án thi hành, sẽ thực hiện chính sách khoan hồng của ta. Như vậy Bình sẽ không nói xấu ta được vì đã tuyên án. (Phương án này ta nắm đằng chuôi)”.
VOA Việt Ngữ không nhận được hồi âm từ đại diện Bộ Tư pháp Việt Nam liên quan đến đề nghị phỏng vấn và xác minh văn bản nêu trên.
Tiếp đó, một văn bản được đóng dấu “Mật” do Trưởng ban Thường vụ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Trần Đình Hoan, gửi Ban Thường vụ tỉnh ủy Bà Rịa-Vũng Tàu, Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự Đảng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Ban cán sự Đảng TAND Tối cao, Ban Nội chính Trung ương ngày 23/6/1998, chỉ đạo “việc tổ chức xét xử cần được chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ”, “giải quyết vụ án theo ý kiến chỉ đạo trên và báo cáo kết quả với Thường vụ Bộ Chính trị”, “có thể cho [ông Bình được] tại ngoại theo yêu cầu của Đại sứ quán Hà Lan” và “sau khi Bình được xét xử thì trục xuất khỏi nước ta”.
clip_image034
Ngày 2/8/2017, VOA liên lạc với ông Trần Văn Khánh, nguyên Bí thư tỉnh ủy tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, nhưng cựu viên chức này cho biết ông đang bận và từ chối trả lời các câu hỏi về vụ án Trịnh Vĩnh Bình.

Bản án

Ngày 11/12/1998, Tòa án Nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tuyên án 13 năm tù đối với ông Trịnh Vĩnh Bình về tội vị phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai và tội đưa hối lộ, phạt 400 triệu đồng, tịch thu tài sản được cho là “sang nhượng bất hợp pháp”.
Đại tá, Luật sư Lê Mai Anh, nguyên cán bộ Viện Kiểm sát Tối cao, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng Hội Luật gia Việt Nam, sau khi xem hồ sơ vụ án Trịnh Vĩnh Bình, nhận định “hồ sơ không có chứng cứ cụ thể, chính xác”. Ông nói bản án chỉ dựa chủ yếu vào lời cung của các nhân chứng:
“[Họ] trọng cung hơn là trọng chứng. Mà cung cũng là ép cung, mớm cung hoặc dọa cung là có. [Họ] sử dụng cung nhiều quá mà chứng lại không có”.
Vị luật gia từng làm việc tại Viện Kiểm sát Tối cao biện luận:
“Ông ấy đứng tên người khác theo đúng hướng dẫn của Chính phủ Việt Nam là ông phải đứng tên người khác. Vì lúc ấy, nó không cho người nước ngoài, người có quốc tịch nước ngoài mua nên ông ấy phải đứng tên người khác. Ông đã thực hiện đúng như ý của họ. Sau đấy họ lại cho là ông ấy mua đất đai, nhà xưởng… là không hợp pháp. Thì chẳng hiểu thế nào là hợp pháp nữa. Bảo ông ấy thế nào thì ông ấy làm đúng như thế. Chứ ông ấy có làm sai đâu”.
Ngày 24/7/2017, VOA liên lạc với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Việt Nam, Tiến sĩ Phan Chí Hiếu, để tìm hiểu về vụ án. Nhưng ông Hiếu cho biết Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc là người phụ trách vụ này. Ngày 25/7, VOA nhận được trả lời từ Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc rằng ông đang “bận” và từ chối trả lời các câu hỏi liên quan đến vụ Trịnh Vĩnh Bình.
Bản án của ông Trịnh Vĩnh Bình cũng gây nhiều tranh cãi trong dư luận vào thời điểm đó.
clip_image036
Thư khẩn của Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 25/2/1999, yêu cầu Chính phủ Việt Nam hoãn thi hành án cho trường hợp của ông Trịnh Vĩnh Bình.
Báo Pháp Luật TP.HCM trong bài viết ngày 29/12/1998 đặt câu hỏi: Bản án Trịnh Vĩnh Bình - “Liệu có phù hợp với chủ trương khuyến khích Việt kiều về nước đầu tư?”
Trong mục “Đầu tư chui cũng không có tội”, bài báo này khẳng định tình trạng phổ biến “có hàng ngàn nhà đầu tư nước ngoài đang đầu tư chui” tại Việt Nam vào lúc này và “Nếu việc này là sai trái thì liệu có đến mức xử lý hình sự không?”
Bài báo khẳng định vào thời điểm xử vụ án, việc đầu tư chui này đã được “hợp pháp hóa” qua Quyết định 767/TTg do Thủ tướng Việt Nam ban hành ngày 17/9/1997.
Ngày 25/2/1999, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan có thư khẩn gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam. Trong đó trích dẫn các khoản, mục trong Quyết định trên của Thủ tướng, đồng thời yêu cầu Chính phủ Việt Nam hoãn thi hành án cho trường hợp của ông Trịnh Vĩnh Bình cho đến khi các chính sách mới trên được làm rõ.
Sau bản án sơ thẩm, ông Bình làm đơn kháng cáo, gửi đơn thư khiếu nại, cầu cứu lên khắp các cơ quan nhà nước, thậm chí lên các quan chức cấp cao ở trung ương.
clip_image038
“Lúc tôi bị giữ, gia đình tôi có làm đơn. Thủ tướng Phan Văn Khải thấy rõ ràng, theo giấy ông ấy viết và có gửi một bản copy cho gia đình, ông ấy yêu cầu Bộ trưởng Lê Minh Hương. Ông ấy viết rằng ‘Bộ trưởng Lê Minh Hương, anh xem lại trường hợp của anh Bình. Không sai phạm đến nỗi phải giữ. Anh chỉ đạo công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, anh Bình không có lỗi đến phải xử. Vì ảnh nghe lời người trong nước, bị họ lấy tiền rồi làm bậy’, đại khái vậy”.
Tuy nhiên, nỗ lực của ông Bình và một số quan chức Việt Nam không mang lại hiệu quả.
Theo nhận định của cựu Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, khi các “thế lực khác vào cuộc”, nội vụ “trở nên phức tạp muôn phần”.
Cựu Đại sứ Việt Nam nói: “Việt Nam có câu ‘đục nước béo cò’ có lẽ khá đúng trong trường hợp này. Mà ‘cò’ ở đây lại là những con cò lớn và nhiều khi không xuất đầu lộ diện”.
Sau phiên phúc thẩm, bản án của ông Bình giảm từ 13 năm xuống thành 11 năm tù (năm 1999). Báo Thanh Niên ngày 14/7/2012 cho hay nhiều tài sản (nhà và đất) của ông Bình được tòa phúc thẩm giao cho UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai tịch thu. Hai cơ sở sản xuất (diện tích gần 40.000 m2) cùng 9 căn nhà trên địa bàn tỉnh được UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giao cho Cục Thi hành án dân sự bán đấu giá.
clip_image040
“Phiên xử sơ thẩm đến phúc thẩm không thay đổi gì mấy. Tôi thấy tình hình không êm rồi. Họ có giấy triệu tập tôi trở lại trại tù. Họ cho tôi thời gian 7 ngày. Trong thời gian đó, tôi tiếp tục làm đơn khiếu nại, nhưng thấy không êm rồi. Tới giờ chót, tức ngày hôm sau đi trình diện thì tôi trốn”. Ông Bình nhớ lại thời điểm quyết định liên quan đến vận mệnh mình cách đây gần 20 năm.
Kỳ sau: Bản án Trịnh Vĩnh Bình tạo căng thẳng ngoại giao Việt Nam - Hà Lan ra sao? Làm thế nào ông Trịnh Vịnh Bình đưa được Chính phủ Việt Nam vào vị trí Bị đơn ở Tòa trọng tài Quốc tế? Thỏa thuận Singapore bao gồm những gì? Xin xem tiếp Kỳ 4: Căng thẳng Việt Nam - Hà Lan và Tòa trọng tài .

Kỳ 4: Căng thẳng Việt Nam - Hà Lan và Tòa trọng tài

VOA - Chỉ trong 6 năm, qua hàng loạt lãnh vực kinh doanh và đầu tư sắc bén, giá trị số vốn ban đầu ông Trịnh Vĩnh Bình đưa về Việt Nam được nhân lên hơn 8 lần. Sự thành công của ông tạo ra “sức cuốn hút không bình thường”, đưa đến con đường lao lý, dẫn “Vụ án Trịnh Vĩnh Bình” lên đến Bộ Chính Trị. Cựu Đại Sứ Việt Nam tại Hà Lan thời điểm ấy nhận định: “Việt Nam có câu ‘đục nước béo cò’ có lẽ khá đúng trong trường hợp này. Mà ‘cò’ ở đây lại là những con cò lớn và nhiều khi không xuất đầu lộ diện”. Vụ án này đã ảnh hưởng quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hà Lan ra sao? Việt Nam và ông Bình “đáo tụng đình” như thế nào? Mời độc giả theo dõi dưới đây.
***
Chính phủ Hà Lan, thông qua Đại sứ quán của hai nước, đã có những can thiệp ngay từ những ngày đầu khi ông Trịnh Vĩnh Bình bị bắt và suốt những năm sau này.
“Chính phủ Hà Lan rất tốt. Họ rất bênh vực công dân của mình. Họ đã cực lực phản đối và làm đủ mọi việc hết. Bộ Ngoại giao Hà Lan đã gọi cả Đại sứ Hà Lan [tại Việt Nam] về nước để phản ánh vụ này”. Ông Trịnh Vĩnh Bình nói với VOA.

Sức ép

Một số nhà ngoại giao Việt Nam cũng thừa nhận mối lưu tâm đặc biệt Chính phủ Hà Lan dành cho vụ án Trịnh Vĩnh Bình. Theo họ, Hà Lan xem đây là một vụ vi phạm nghiêm trọng Hiệp định Đầu tư Song phương (BIT) giữa hai nước.
“Vụ này là một obstacle [trở ngại] trong quan hệ Việt Nam-Hà Lan, và tôi đã phải đứng mũi chịu sào trực tiếp giải quyết. Tôi đã phải liên lạc giữa Bộ Ngoại giao Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hà Lan, giữa Quốc hội hai nước và giữa rất nhiều cơ quan khác”. Cựu Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nói với VOA.
clip_image042
Cảm nhận được độ “nóng” của vụ Trịnh Vĩnh Bình đối với quan hệ song phương, Đại sứ Đinh Hoàng Thắng đã sang Paris báo cáo trực tiếp cho Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm nhân dịp ông Cầm có công vụ tại Pháp.
Trong cuộc phỏng vấn ngày 7/8/2017, vị đại sứ cho biết ông đã phải chịu rất nhiều sức ép từ Bộ Ngoại giao Hà Lan, đặc biệt là từ Quốc hội và một số nghị sĩ từ các đảng đối lập trong Quốc hội Hà Lan.
“Sức ép mạnh nhất và nặng nhất là vào thời điểm chuyến thăm của Thủ tướng Phan Văn Khải tới Hà Lan, khi tôi ra sân bay đón Thủ tướng, thì ngay trước đó 1 giờ đồng hồ, Bộ trưởng Quốc phòng Hà Lan còn cho thư ký đến và thu xếp cuộc gặp để ông ấy đến trực tiếp trao toàn bộ hồ sơ của vụ án và quan điểm của phía Hà Lan, yêu cầu Chính phủ Việt Nam xem xét lại vụ án”.
Bộ trưởng Quốc phòng Hà Lan, Joris Voorhoeve, sau đó còn yêu cầu Thủ tướng Wim Kok và Ngoại trưởng Hà Lan gửi thư trực tiếp cho Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương để yêu cầu giải quyết vụ ông Trịnh Vĩnh Bình.
Phía Quốc hội Hà Lan cũng liên tục gây sức ép lên Chính phủ Việt Nam qua những động thái như không ủng hộ việc thông qua các hiệp ước, đề nghị cắt giảm viện trợ hay gửi các thông điệp gay gắt, chất vấn các quan chức Việt Nam khi họ đến thăm nước này.
clip_image044
Bộ trưởng Quốc phòng Hà Lan Joris Voorhoeve (Ảnh tư liệu năm 1997/Reuters)
Các dân biểu còn đưa vụ Trịnh Vĩnh Bình lên Quốc hội châu Âu vào những dịp phái đoàn Việt Nam đến thăm. Một văn kiện ghi lại bài phát biểu của Dân biểu Jules Maaten, thuộc Ủy ban Đối ngoại Quốc hội châu Âu, ngày 14/10/2001, có đoạn: “Tôi mạnh mẽ ủng hộ một cuộc điều tra độc lập tình trạng của ông Trịnh Vĩnh Bình và các nhà đầu tư khác ở Việt Nam”.
Dân biểu này cho rằng việc Việt Nam tuyên án tù và tịch thu tài sản của ông Bình đã “gây cản trở và có tác động rất tiêu cực đến quyết định của các nhà đầu tư khác”, và đề nghị Việt Nam “phải có sự bảo vệ thích hợp cho các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư ở Việt Nam, phải chấm dứt nạn tham nhũng. Đây là điều kiện tiên quyết cần thiết cho sự phát triển kinh tế và chính trị trong tương lai ở Việt Nam cũng như những nối kết của Việt Nam với nền kinh tế thế giới”.

Nỗ lực không thành

clip_image046
Thủ tướng Võ Văn Kiệt (Ảnh tư liệu năm 1998/Reuters)
Về phía Chính phủ Việt Nam, một số giới chức cũng nỗ lực giải quyết ổn thỏa vụ này. Trong đó phải kể đến Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và một số giới chức khác.
Nguyên Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, trong cuộc trả lời phỏng vấn với VOA ngày 8/8/2017, cho biết: “Ý kiến chỉ đạo quan trọng là từ Thủ tướng lúc bấy giờ là Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Bản thân tôi là một Bộ trưởng, một thành viên Chính phủ cũng đã kết nối và chỉ đạo Bộ Ngoại giao, chỉ đạo Đại sứ ở Hà Lan, và các ngành liên quan thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng. Tinh thần chung hồi bấy giờ là Thủ tướng muốn dàn xếp sao cho vụ việc không ảnh hưởng đến quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Hà Lan, cũng như giữa Việt Nam với Liên minh châu Âu”.
clip_image048
Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm trong một buổi trả lời phỏng vấn truyền thông quốc tế. (Ảnh tư liệu)
Trong nước, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cũng lên tiếng công khai về vụ này trong một phiên chất vấn tại Quốc hội Việt Nam vào năm 1998.
Trong cuốn Hồi ký “Gia đình, Bạn bè và Đất nước”, bà Nguyễn Thị Bình tiết lộ sau khi tìm hiểu thấy Luật pháp Việt Nam vẫn “đang trong quá trình hoàn thiện” và “thấy cách làm của Bà Rịa - Vũng Tàu không đúng, không phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là đối với Việt kiều, là đối tượng ta đang kêu gọi họ về xây dựng đất nước”, đã đề nghị “nếu họ [Việt kiều] không có gì sai phạm lớn, nguy hiểm, thì nên cảnh báo, hướng dẫn họ là tốt nhất”.
Tuy nhiên, kiến nghị của bà đã không được chấp nhận, nên cuối cùng bà đã phải sử dụng quyền Đại biểu Quốc hội của mình để công khai lên tiếng về vụ này.
Ông Trịnh Vĩnh Bình, lúc đó đang ở Sài Gòn, vẫn còn nhớ như in buổi chất vấn được truyền hình trực tiếp.
clip_image050
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (Ảnh tư liệu năm 2007/AP)
“Bà Bình, tôi nhớ trong một phiên họp ngày 20/5/1999, bà ấy đưa vụ này ra Quốc hội và chất vấn ông Trịnh Hồng Dương, Chánh án Tối cao. Bà ấy cho rằng ông Bình về làm ăn là có lợi cho kinh tế, không có tội. Tại sao phải làm như vậy? Phải xem xét lại. Lúc đó, ông Nông Đức Mạnh là Chủ tịch Quốc hội. Đó là buổi chất vấn trực tuyến, ở Sài Gòn mở tivi ra là xem được. Tôi đích thân theo dõi buổi đó và đã khóc. Tôi thấy bà Bình đưa ra điều đúng với tâm trạng, nỗi uất ức của tôi. Tôi khóc”.
Chủ tịch Quốc hội lúc đó, ông Nông Đức Mạnh, đã ghi nhận ý kiến của bà Nguyễn Thị Bình. “Nhưng sau đó Ủy ban Pháp luật được giao nhiệm vụ giám sát đã không làm việc nghiêm túc, không giúp làm rõ được vấn đề nên để sự việc kéo dài, và về sau đã gây ra nhiều rắc rối”, bà Bình cho biết trong cuốn Hồi ký.
clip_image052
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (Ảnh tư liệu năm 2006/Reuters)
Các cấp chuyên viên cũng đã có những can thiệp.
Đại tá, Luật gia Lê Mai Anh, nguyên cán bộ Viện Kiểm sát Tối cao, cho biết sau khi xem hồ sơ vụ án, ông cũng đã trình bày quan điểm của mình cho các cơ quan tòa án và Ban Bí thư Bộ Chính trị. Ông khẳng định với VOA rằng vụ án Trịnh Vĩnh Bình không có chứng cứ rõ ràng.
“Không thể làm ăn vô lý như thế được. Anh phải có chứng cứ cụ thể, chính xác, khoa học. Anh đặt [mình] vào địa vị người ta về nước như thế, đóng góp cho anh tiền và mua bán chính đáng như vậy, mua những đồ không làm được của các anh, người ta cải tạo lại, bổ sung để làm ăn, thuế má người ta đóng đầy đủ, thậm chí người ta làm từ thiện rất tích cực, thì tại sao các anh lại làm ăn quá đáng như thế? Tôi nói đầy đủ cho họ như vậy”.
Nhưng sau khi trình bày ý kiến, ông Lê Mai Anh cho biết cấp trên khuyên ông rằng “họ có quyền” và “trên đã có ý kiến như thế rồi thì thôi”, nhưng ông Mai Anh nói “Tôi có thể ‘thôi’ theo quan điểm của tổ chức, nhưng cá nhân tôi vẫn giữ quan điểm của mình”.
Theo cựu giới chức của Viện Kiểm sát Tối cao, phía “bên kia” giữ chức vụ cao nên cũng “khó nói lại”. Ông cho rằng vấn đề nằm ở chỗ “quan điểm” của một số người nào đó “có quan hệ lợi ích trong đó nên bảo vệ lẫn nhau, chứ không phải là ý kiến chung của Đảng và Nhà nước”.
clip_image054
Thủ tướng Phan Văn Khải (Ảnh tư liệu năm 1998/Reuters)
Nguyên Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm cũng khẳng định “vụ việc không chỉ liên quan đến các cơ quan chức năng ở Vũng Tàu, mà còn liên quan đến một số cơ quan trung ương khác. Đặc biệt hồi đó, theo anh em báo cáo lại, liên quan đến cả một số bộ phận bên an ninh”.
Chính “nội vụ phức tạp” của vụ án, mà theo lời Đại sứ Đinh Hoàng Thắng, tất cả những nỗ lực giải quyết êm thắm vụ việc đều như “đánh vào bị bông”.

Ra Tòa Quốc tế

Sau khi nhận thấy tất cả những nỗ lực can thiệp từ cả phía Chính phủ Hà Lan và một số giới chức cấp cao Việt Nam đều không mang lại kết quả, ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định đưa vụ án ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế.
Tháng 10/2003, ông Trịnh Vĩnh Bình chính thức nhờ tổ hợp luật sư nổi tiếng của Mỹ, Covington & Burlington, đứng ra kiện Chính phủ Việt Nam trước Tòa trọng tài Quốc tế. Chính phủ Việt Nam cũng thuê một tổ hợp luật sư nổi tiếng của Pháp, Glyde Loyrette Rouel, đại diện mình.
Phía ông Bình đòi Chính phủ Việt Nam bồi thường 100 triệu đôla vì vi phạm Hiệp định Thương mại Song phương.
clip_image056
Trong thư gửi cho Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Văn Hiện, Luật sư của Covington & Burlington cho biết họ “xác định được rất nhiều quyền lợi của ông Trịnh, quyền của nhà đầu tư vào Việt Nam bị vi phạm nghiêm trọng”. Chẳng hạn như “ông Trịnh đã bị tước đoạt quyền được ‘đối xử bình đẳng và công bằng’ cho nhà đầu tư Hà Lan tại Việt Nam theo điều khoản 3(1) của Hiệp ước quy định”.
Trước khi diễn ra phiên xử đầu tiên, được ấn định vào ngày 4/12/2006, Việt Nam đã gửi nhiều đoàn đàm phán đến làm việc với ông Trịnh Vĩnh Bình, theo lời ông Bình nói với VOA.
“Một hai năm đó là thời Thủ tướng Phan Văn Khải (chú Sáu Khải). Phải nói chú Sáu Khải là một Thủ tướng muốn làm một bộ luật hoàn chỉnh. Một bộ luật tốt. Ông rất chú trọng tới những vấn đề sai lầm này. Ngoài việc viết thư cho ông Lê Minh Hương, ông cũng đã thấy vụ này là sai nên đã cho một người làm con thoi cố gắng thương lượng vụ này”.
Sau gần cả chục lần đàm phán, kể cả trực tiếp và gián tiếp qua điện thoại, email, ông Bình cho biết hai bên đã đạt được một “thỏa thuận ngoài tòa”.
“Cuối cùng vào tháng 11/2006, trước khi xử khoảng 10 ngày, [hai bên] đã ký được Bản thỏa thuận. Họ ghi rõ phía ‘Chính phủ Việt Nam cam kết’ trên văn bản đàng hoàng nên tôi đinh ninh rằng họ sẽ làm hết, sẽ giải quyết cho tôi. Tôi nghĩ thôi thì cố gắng về gây dựng lại”.
Thỏa thuận, theo lời ông Bình, được ký kết tại Singapore vào tháng 11/2006, bao gồm 3 điều khoản.
Điều 1: Ông Trịnh Vĩnh Bình cam kết chấm dứt hoàn toàn vụ kiện tại Tòa trọng tài ở Stockholm và sẽ không có phiên tòa đã được ấn định trước đó.
Điều 2: Phía Chính phủ Việt Nam hỗ trợ cho ông Bình 15 triệu đôla; miễn thi hành án tù và tạo điều kiện cho ông Trịnh Vĩnh Bình về nước thực hiện các dự án đầu tư; khi ông Bình có đơn kiến nghị, Chính phủ Việt Nam xem xét trả lại những tài sản “hợp lý” của ông Bình.
Điều 3: Chính phủ Việt Nam bảo đảm quyền cư trú, đi lại và làm ăn cho ông Trịnh Vĩnh Bình.
clip_image058
Doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình (Ảnh tư liệu)
Ngày 31/7/2017, VOA gửi thư chính thức cho Vụ Báo chí của Bộ Ngoại giao Việt Nam để xác nhận nội dung “Thỏa thuận Singapore”.
Ngày 8/8/2017, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Trà trả lời VOA như sau:
“Chúng tôi sẽ chuyển những câu hỏi này của phóng viên đến các cơ quan chức năng.
Việt Nam luôn hoan nghênh và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tại Việt Nam. Mọi hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam. Những hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng các quy định pháp luật”.
Trong khi đó, doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình, người tự nhận là mình “ngu”, nói với VOA về Thỏa thuận này: “Tôi bị lừa. Cú đó là tôi bị lừa…”
Kỳ cuối: Vì sao ông Trịnh Vĩnh Bình cho rằng mình “bị lừa”? Nguyên nhân nào khiến vụ kiện 100 triệu USD năm 2006 biến thành “ít nhất 1,25 tỷ USD” hiện nay? Cơ hội thắng thua giữa hai bên? Những ảnh hưởng của vụ kiện đối với Việt Nam? Xin xem Kỳ cuối: Hai chữ ‘hợp lý’ trị giá tỷ đô!

Kỳ cuối: Hai chữ ‘hợp lý’ trị giá tỷ đô

VOA - Vụ án Trịnh Vĩnh Bình, từ vụ việc mang tính địa phương tại Bà Rịa - Vũng Tàu, đã mau chóng lên đến trung ương, cả Bộ Chính trị. Người biết chuyện lúc ấy nhận định, “Việt Nam có câu ‘đục nước béo cò’ có lẽ khá đúng trong trường hợp này. Mà ‘cò’ ở đây lại là những con cò lớn và nhiều khi không xuất đầu lộ diện”. Ngay cả Bộ trưởng Quốc phòng Hà Lan thời ấy, trong cuộc trả lời phỏng vấn VOA ngày 18 tháng Tám, cũng nói “vấn đề là từ các cá nhân. Đó là một vụ tham nhũng nhằm chiếm đoạt tài sản của ông Bình ở Việt Nam”. Sau khi ký thỏa thuận ngoài tòa tại Singapore, ông Bình nói rằng mình bị lừa trong một tiêu chí của một điều khoản liên quan đến việc trả lại tài sản của mình tại Việt Nam. Chính điều này đưa đến vụ kiện lần thứ hai, tại Paris vào ngày 21 tháng Tám, với số tiền bồi thường ông Bình đòi “ít nhất 1,25 tỷ đô la”. Xin theo dõi phần cuối dưới đây.
***
Thời điểm ông Trịnh Vĩnh Bình kiện Chính phủ Việt Nam ra Tòa trọng tài Quốc tế, báo chí trong nước gần như im tiếng. Rải rác chỉ một vài bài phỏng vấn các chuyên gia pháp luật về các thủ tục kiện tụng tại Tòa trọng tài.
Khi hai bên đạt được thỏa thuận ngoài tòa, dòng tin tức bị cắt đứt hoàn toàn, cả trong nước lẫn quốc tế. Các phóng viên quốc tế chuyên theo dõi những vụ kiện tại Tòa trọng tài cũng chỉ biết rằng hai bên đã đạt được thỏa thuận. Còn nội dung thỏa thuận như thế nào không ai rõ.
Nguyên nhân, theo lời ông Bình, là vì đây là điều kiện phía Việt Nam đưa ra trong thỏa thuận: Không tiết lộ thông tin cho truyền thông, báo chí.
Điều này, theo nhận định của Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Cục Thống kê Liên Hiệp Quốc, là một bất lợi cho ông Trịnh Vĩnh Bình:
“Cái khó của ông Trịnh Vĩnh Bình là báo chí thế giới rất ít nói về vụ này. Thành ra họ [Việt Nam] nghĩ là họ lờ đi”.

“Lấy mỡ nó rán nó”

Sau thỏa thuận ký kết tại Singapore năm 2006, ông Trịnh Vĩnh Bình trở về Việt Nam.
Đúng theo cam kết, Việt Nam miễn án tù và cho phép ông Bình ra vào nước dễ dàng. Dù không hề đề cập đến Bản thỏa thuận, báo Lao Động ngày 11/6/2012 vẫn đưa tin ông Bình “được Chính phủ ta giải quyết miễn chấp hành hình phạt tù, cho về Việt Nam”.
Nhưng điều khoản trả lại tài sản đã không được thực hiện như những hứa hẹn trong thời gian đôi bên thương lượng thỏa thuận, theo lời ông Bình.
“Tôi lại ngây ngô tôi về. Tôi cứ nghĩ là trên nguyên tắc có Bản thỏa thuận. Bên Chính phủ Việt Nam cam kết, họ ghi rất rõ, 1… 2… 3… Vậy mà họ về họ âm thầm họ làm”.
Không bỏ cuộc, suốt những năm từ 2006-2014, số đơn từ ông Bình gửi để xin giải quyết việc trả lại mấy chục địa điểm tài sản có thể “cân ký được”, ông nói.
Phía Việt Nam thời gian đầu khi nhận được đơn yêu cầu trả lại tài sản của ông Bình cũng có văn thư trả lời cho ông. Một văn bản Bộ Tư pháp Việt Nam gửi cho ông Trịnh Vĩnh Bình vào tháng 9/2008 nói Bộ này “đang nghiên cứu, xem xét theo quy định của pháp luật”. Nhưng theo lời ông Bình, kể từ sau văn thư này, Bộ Tư pháp “bặt vô âm tín”.
clip_image062
Trong các ngày 24/7 và 25/7/2017, VOA liên lạc trực tiếp với lãnh đạo Bộ Tư pháp để xác minh việc này nhưng chỉ được trả lời “bận” và từ chối trả lời các câu hỏi liên quan đến vụ Trịnh Vĩnh Bình.
Cũng trong thời gian này, ông Bình nhận được lời giải thích từ phía đại diện Việt Nam về việc không hoàn trả các tài sản đã tịch biên. Ông Bình kể cho VOA:
“Đoàn đàm phán Việt Nam trình bày lý do tài sản bị sang tay, không thể trả lại.
Họ nói như thế này: ‘Chúng tôi cũng đã nghiên cứu để giải quyết cho ông Bình theo thỏa thuận Singapore. Nhưng khi về, chúng tôi gặp khó khăn là những tài sản đó bây giờ đứng tên người thứ 2, thứ 3…’, tức là họ sang tay, bán mấy lần rồi. Cái câu ‘thứ 2, thứ 3’ là đúng. Nhưng tôi muốn nói cái dối của họ là họ qua họp khoảng năm 2014, 2015. Trong khi chính người phát ngôn đó hồi năm 2009, 2010, trong một văn bản, tìm cách lý giải ‘tiêu chí’ mà trong Bản thỏa thuận có ghi là từ ‘hợp lý’. Họ đưa ra hàng lô những cái mà họ cho là không hợp lý để không trả tài sản lại”.
Tiêu chí “hợp lý” nằm trong một điều khoản của Bản thỏa thuận mà Chính phủ Việt Nam và ông Trịnh Vĩnh Bình đã ký kết tại Singapore năm 2006 về việc giải quyết trả lại tài sản cho ông Bình. Một phần của điều khoản này có nội dung, khi ông Bình có đơn kiến nghị, Chính phủ Việt Nam xem xét trả lại những tài sản “hợp lý” của ông Bình.
clip_image064
Một số xe hơi cổ của ông Trịnh Vĩnh Bình.
Theo lời ông Bình, Việt Nam đã cố tình thêm chữ “hợp lý” vào Bản thỏa thuận, trong khi trước đó trong các bản thảo thương lượng, Việt Nam cam kết trả lại toàn bộ tài sản cho ông.
Tại Việt Nam, báo chí thời gian này cũng đưa tin về chuyện nhiều tài sản của ông Trịnh Vĩnh Bình đã bị “xà xẻo”, tự ý bán một cách “tùy tiện và cẩu thả”, đi kèm với tin truy tố một vài cán bộ thuộc Cục thi hành án dân sự, mà theo lời ông Bình, chỉ là “những con tép riu” ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có dính líu đến vụ án của ông. Báo Thanh Niên ngày 11/6/2012 nói “đã có nhiều sai phạm” trong thời kỳ hậu vụ án Trịnh Vĩnh Bình. Nhiều tài sản của ông Bình bị bán một cách “bất minh”, “trong đó có khu ‘đất đẹp’ giá rẻ về tay người nhà [của 3 cán bộ thi hành án]”.
Vẫn theo tờ báo này, “trong quá trình kê biên khu nhà kho thuộc tài sản của ông Bình, các cán bộ này đã phát hiện ra 12 xe ô tô trong nhà kho không được tuyên trong bản án. Thay vì phải xác minh làm rõ nguồn gốc, chủ sở hữu, Hoàng và Linh [2 trong số 3 cán bộ] vội vàng tiến hành cưỡng chế, kê biên số tài sản này”.
Cũng trong thời gian tài sản của ông Bình bị sang tay, “xà xẻo” vô tội vạ ở địa phương, ở cấp trung ương cũng có những “chỉ đạo” xuống cho các bộ, ngành và địa phương liên quan đến vấn đề tài sản của ông Trịnh Vĩnh Bình.
Một văn bản đóng dấu “Hỏa tốc” của Văn phòng Chính phủ gửi cho Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án Nhân dân Tối cao và Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM vào ngày 2/4/2010 ghi rõ: “Giao Bộ Tư pháp chủ trì họp với Tòa án Nhân dân Tối cao, Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Ủy ban Nhân dân các địa phương có liên quan bàn thống nhất biện pháp xử lý tài sản liên quan đến vụ kiện Trịnh Vĩnh Bình theo đúng quy định của pháp luật; báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4 năm 2010”.
clip_image066
Trước đó, một văn bản từ Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao ngày 12/10/2009 gửi Lãnh đạo Bộ Tư pháp cũng đề nghị Bộ này “có ý kiến” với UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, “chỉ đạo Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành dừng việc san lấp, sử dụng đất có liên quan tới việc khiếu tố để chờ ý kiến kết luận giải quyết cuối cùng của cơ quan chức năng, tránh việc khiếu tố kéo dài, phá vỡ cam kết”.
Tuy nhiên, những chỉ đạo từ bên trên đã không hề có hiệu lực trên thực tế tại địa phương.
“Vì những người đi làm [việc giải quyết trả lại tài sản] xuống tới Vũng Tàu thì bị câu móc. Miền Bắc có từ hay lắm ‘Lấy mỡ nó rán nó’. Họ dùng tài sản của mình chia nhau. Ai xuống thì ‘Thôi, đừng làm gì hết. Mình chia nhau’. Rồi họ sang tay ngầm. Họ kéo vào chia chác nhau. Họ làm đủ thứ hồ sơ. Ví dụ từ 10.000 m2, họ làm thành 8.000 m2, 7.000 m2… Rồi cuối cùng họ nói ‘Cái này không giao cho ông Bình được vì hồi xưa có bản án như vậy, vi phạm thế nọ thế kia. Tóm tắt là họ lấy hết của tôi”. Ông Bình nói với VOA.
clip_image068
Ngày 26/7/2017, VOA liên lạc với ông Nguyễn Cao Lục, phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Việt Nam, để xác minh nội dung các văn bản thì được ông trả lời: “Rất xin lỗi là nó không thuộc lĩnh vực của tôi phụ trách. Cái này bên Bộ Ngoại giao [phụ trách] thôi. Liên hệ với bên Bộ Ngoại giao nhá”.
Sau nhiều lần liên lạc với lãnh đạo và Vụ Báo chí của Bộ Ngoại giao, VOA nhận được trả lời từ Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Trà vào ngày 8/8/2017: “Chúng tôi sẽ chuyển những câu hỏi này của phóng viên đến các cơ quan chức năng”.
Đơn từ không giải quyết được việc, năm 2012, ông Trịnh Vĩnh Bình về Việt Nam và đến gặp bà Nguyễn Thị Bình, người mà ông từng tận tai nghe trực tiếp trên truyền hình bà chất vấn trước Quốc hội về vụ án của ông.
“Tôi đến cầu cứu bà ấy. Bà Bình thở dài, ngả người ra sau ghế và nói ‘Bình ơi, chị bây giờ không còn quyền chức, không làm gì hết. Thời chị còn quyền chức, chị nói còn chưa nghe nữa mà. Thôi để chị thử”.
clip_image070
Ngày 26/12/2012, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình gửi thư cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và “đề nghị đ/c [đồng chí] có thể dành ra một ít thời gian chủ trì cuộc họp với các bộ ngành và các tỉnh có liên quan để giải quyết dứt điểm việc này, giữ uy tín cho Chính phủ, đảm bảo công bằng và nghiêm minh của pháp luật, tránh những phức tạp có thể xảy ra không cần thiết”.
Chờ thêm 2 năm nữa, những nỗ lực đòi lại tài sản của ông Bình vẫn chẳng đi tới đâu.
“Để lâu cứt trâu hóa bùn. Kệ. Cứ kéo dài vậy”. Ông Bình chua chát, vì trước đó, Đại tá-Luật gia Lê Mai Anh, nguyên cán bộ Viện Kiểm sát Tối cao, sau khi nhận được kêu cứu từ ông Bình, đã cảnh báo:
“Trả lại tiền cho ông ấy bây giờ là khó khăn lắm. Không thể có chuyện ấy được đâu. Nhưng mà ông ấy vẫn cứ tin Nhà nước mình nên ông ấy cứ chờ đợi từ năm này sang năm khác”.

Kiện lần 2

Tháng 1/2015, ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định khởi kiện Chính phủ Việt Nam ra Tòa trọng tài Quốc tế lần thứ hai.
Hồ sơ của ông lần này được chuyển cho tổ hợp luật sư nổi tiếng của Mỹ: King & Spalding.
Trong vụ kiện lần này, ông Trịnh Vĩnh Bình đòi nhà nước Việt Nam phải bồi thường “ít nhất 1,25 tỷ đôla”.
“Tôi đòi hai mục. (1a) là những tài sản mà Chính phủ Việt Nam tịch thu hay chiếm đoạt trái phép, vi phạm luật pháp quốc tế về hiệp thương. (1b) Do vụ án gây ra một số hệ quả, nên những hệ quả đó cũng được liệt kê vào để đòi đền bù. Điểm thứ 2 là điểm nhức nhối”.
Ông Trịnh Vĩnh Bình cho biết điểm đòi bồi thường thứ 2 dựa trên tiền lệ của một vụ kiện nhốt tù oan sai ở Mỹ. Trong vụ kiện này, người bị nhốt tù oan 4,5 ngày đã được tòa ra phán quyết buộc Chính phủ Mỹ phải bồi thường 5 triệu đôla. Như vậy, một ngày bị tù oan được bồi thường khoảng 800.000 đôla. Ông Trịnh Vĩnh Bình dựa trên tiền lệ này để quy ra số tiền đòi Chính phủ Việt Nam phải bồi thường cho hơn 18 tháng Việt Nam giam giữ ông.
“Tôi rất tiếc là Chính phủ Việt Nam thay vì một vụ việc mà mình thấy mình sai, mình biết mình sai rồi thì giải quyết cho người ta êm đẹp, tức là ngăn ngừa không cho vụ này xảy ra tiếp. Đây là việc nên làm. Nhưng không, Việt Nam thường thường khi có một vụ xảy ra, người ta có khiếu nại hay muốn nói lên sự thật, thì lại tìm cách đàn áp nó xuống, dùng mọi hình thức đe dọa, đàn áp. Tôi cho đây là một cách thức mà khi sử dụng với những người Việt kiều thì gần như 80%, 90% là vô hiệu. Là vì những người Việt sống ở nước ngoài người ta đã hấp thụ được cái gọi là trật tự xã hội, pháp luật ở bên ngoài. Người ta cho rằng đó là quyền của người ta. Người ta được bảo vệ. Còn Việt Nam thì không vậy. Quyền ở trong tay tôi. Trong tay tôi thì tôi có thể làm”.
Về phía mình, Chính phủ Việt Nam lần này thuê tổ hợp Luật sư nổi tiếng của Anh, Freshfields Bruckhaus Deringer LLP. VOA nhiều lần liên lạc chuyên viên tư vấn pháp lý hiện đang làm việc với tổ hợp luật sư trên, nhưng đều không nhận được câu trả lời.
Trong văn bản gửi VOA ngày 8/8/2017, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Trà chỉ trả lời chung cho gần 10 câu hỏi của VOA rằng:
Chúng tôi sẽ chuyển những câu hỏi này của phóng viên đến các cơ quan chức năng.
Việt Nam luôn hoan nghênh và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tại Việt Nam. Mọi hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam. Những hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng các quy định pháp luật”.
Tiến sĩ Vũ Quang Việt, Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Cục Thống kê Liên Hiệp Quốc, cho biết về quy trình xử kiện sắp tới:
“Xử, xong rồi giả dụ [Tòa trọng tài] có đưa ra một kết luận là phải trả, thì đương nhiên họ sẽ có quyền và bằng cách nào đó nắm tài sản của Việt Nam. Cả cái Âu châu nó lớn. Nếu là Tòa Quốc tế thì họ phải chặn account [tài khoản] của Chính phủ Việt Nam”.
Cựu chuyên viên của Liên Hiệp Quốc nói thêm: “Tôi nghĩ là để cho họ [Trung tâm Trọng tài Quốc tế] làm. Rồi sau đó Việt Nam học được một bài học. Chả có cách gì khác. Phải để cho nó xảy ra. Trừ phi bây giờ Việt Nam xin nộp lại tất cả những thứ đó, trả lại ngay lập tức, rồi thì quan tòa có thể kêu thôi và bỏ [việc xét xử]”.
Tiến sĩ Joris Voorhoeve, người trước đây trong tư cách Bộ trưởng Quốc phòng của Hà Lan đã có rất nhiều can thiệp, yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải xem xét lại vụ án, trong cuộc phỏng vấn với VOA ngày 18/8/2017, nói bản án của Việt Nam đối với ông Trịnh Vĩnh Bình là “bất công”.
“Vấn đề là từ các cá nhân. Đó là một vụ tham nhũng nhằm chiếm đoạt tài sản của ông Bình ở Việt Nam”.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Voorhoeve nhận định vụ án này là một “thử nghiệm” về lòng tin, không chỉ từ phía Hà Lan mà còn ở Hoa Kỳ và các nước khác, đối với việc tuân thủ Luật pháp quốc tế và trong nước của Việt Nam.
clip_image076
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Voorhoeve trong cuộc phỏng vấn qua Skype với VOA, 18/8/2017.

Thắng, thua? Đau!

Nguyên đơn vụ kiện, ông Trịnh Vĩnh Bình, khá tự tin về khả năng thắng kiện.
“Dĩ nhiên quyết định cuối cùng vẫn là ở tòa. Nhưng tôi thấy Chính phủ Việt Nam, đừng nói là phần trăm, mà tôi dám nói mạnh miệng rằng phần ngàn cũng không có. Bởi vì trong vụ này không phải là sai ít, mà là sai từ Luật của Việt Nam, mà chính Chính phủ Việt Nam bây giờ cũng biết sai”.
Trong khi đó, những người dân ở phía “Bị đơn”, cũng không hề tỏ ra lạc quan.
Nhà báo Nguyên Bình, con gái tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nói với VOA:“Làm sao mà thắng được? Một là mình không có thầy kiện giỏi. Hai là người ta đã nghiên cứu kỹ rồi. Người ta cũng thông thạo luật pháp quốc tế rồi. Thế thì chuyện thua là phần lớn hơn là không thua. Mà đã thua rồi thì mất rất nhiều thứ. Không những về kinh tế, mà còn về chính trị, ngoại giao. Cái đấy là chắc chắn rồi”.
Theo bà, Việt Nam “chỉ có cách thương lượng với ông Trịnh Vĩnh Bình và xin lỗi ông ấy”.
“Việt Nam bây giờ đang thiếu tiền, thiếu vốn, muốn kêu gọi Việt kiều cũng như các nhà đầu tư ở các nước vào đầu tư, mà nếu vụ này phanh phui ra và bị thất bại thì ảnh hưởng sẽ rất lớn. Chẳng biết ai người ta còn muốn vào Việt Nam đầu tư kiểu này nữa không?”
Theo bà Nguyên Bình, “về lâu dài, phải dân chủ hóa. Phải không được kỳ thị những người giỏi về luật pháp và có kinh nghiệm làm ăn quốc tế. Chứ còn bây giờ cái gì cũng Đảng. Mà Đảng thì không hiểu biết gì về làm ăn kinh tế. Một ông chưa bao giờ đọc một cuốn sách về kinh tế mà lại cứ lãnh đạo và quyết định mọi thứ, thì thua là cái chắc. Không phải thua một ông Trịnh Vĩnh Bình này, mà còn có thể thua rất nhiều trong những vụ làm ăn với châu Âu”.
Hầu hết các giới chức Việt Nam mà VOA phỏng vấn khi thực hiện loạt bài này đều dè dặt trong việc đưa ra tiên đoán về khả năng thắng, thua của Việt Nam.
Cựu Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nói: “Trước đây đã có thỏa thuận ngoài tòa, nghĩa là Việt Nam đã phải lùi một bước. Lần này liệu còn có đất lùi nữa hay không là tùy vào sự chuẩn bị của đội ngũ luật sư mà trong nước đã phải bỏ tiền ra thuê rất đắt. Nhóm lợi ích thu về được một ít tiền của ông Bình, không biết có nổi dăm triệu không, mà bây giờ nếu phải đền bù có thể lên đến nhiều trăm triệu đôla. Tiền này ai gánh chịu? Người dân và doanh nghiệp Việt Nam đóng thuế ở Việt Nam è cổ bỏ tiền thuê luật sư để cãi cho những người mà chính luật pháp Việt Nam cũng đã bỏ tù họ”.
Phiên xử đầu tiên của vụ kiện sẽ diễn ra vào ngày 21/8/2017 tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế ở Paris, Pháp.
Trong những năm tháng chuẩn bị cho vụ kiện, ông Bình nói với VOA rằng ông luôn chuẩn bị tâm thế để đối mặt với tình huống xấu nhất.
“Qua vụ này, tôi nghĩ Việt Nam sẽ trả một giá rất đắt. Tôi cam đoan như vậy. Đừng có nghĩ là đe dọa tôi, không ăn thua gì. Tôi không là gì cả. Văn bản của tôi bây giờ nằm trong tay luật sư. Từ lâu, khi vào cuộc chơi, tôi đã chấp nhận cuộc chơi. Tôi đã chuẩn bị di chúc và ủy quyền hết rồi. Tôi chả là gì hết. Nếu còn tôi, thì còn có thể ở một mức nào đó thương lượng để giải quyết những thiệt hại và ngăn ngừa trong tương lai để không cho những quan tham làm chuyện này tiếp”.
clip_image079
Ông Bình tham quan địa điểm đầu tư tiềm năng tại Việt Nam vào tháng 4/1990.
Khi được hỏi nếu được lựa chọn lại, ông có quyết định về Việt Nam đầu tư?
Ông Trịnh Vĩnh Bình trả lời:
“Tôi có thể nói rằng thuê tôi cũng không dám. Cho tiền tôi một ngày bao nhiêu tôi cũng không dám. Thực ra không phải là không dám, mà tôi không muốn. Tại sao mình phải phí thời giờ như vậy? Tâm sức của mình phải được tưởng thưởng ít nhất trên tinh thần”.
Ước mơ, hoài bão xây dựng quê hương đã được ông Trịnh Vĩnh Bình rất nhiều lần, bằng nhiều cách, trình bày với các cơ quan chức năng của Việt Nam, như trong một văn bản ông đã gửi cách đây 7 năm:
“Nếu tài sản nhỏ nhoi của gia đình tôi có bị quan chức Vũng Tàu tìm cách tịch thu (để họ ngấm ngầm chia chác nhau bằng nhiều cách, như họ đang luồn lách, tha hồ mà làm như hiện nay), thì nó sẽ không có giá trị gì đối với đất nước Việt Nam. Điều làm cho tài sản gia đình tôi có lợi ích đối với đất nước Việt Nam chính là phải để nó tiếp tục sản xuất sinh nở ra những lợi ích tự nhiên, làm tấm bảng quảng cáo mạnh cho việc thu hút thêm đầu tư nước ngoài, khích lệ thu hút sự đóng góp tích cực từ khối kiều bào… đó mới là có lợi”.
Cả ông Trịnh Vĩnh Bình lẫn một số giới chức của Việt Nam mà VOA phỏng vấn đều tỏ ra không vui vẻ gì trong vụ kiện này.
Ông Trịnh Vĩnh Bình nói “đấu tranh” tại Tòa Quốc tế là lựa chọn cuối cùng của ông. Vì theo lời ông, “cái gì cũng vậy, cũng phải có đấu tranh để theo luật đào thải”.

Tất cả họ, cả bên bị đơn lẫn nguyên đơn, nói như lời Đại sứ Đinh Hoàng Thắng, đều “đau” trong vụ án xuyên thế kỷ này.Khánh An